Giá: 130.000 VND
Đánh giá 5 lượt đánh giá
Cây phèn đen khô là dược liệu được dùng trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian để chữa lỵ, tiêu chảy, mụn nhọt, sưng đau và phối hợp trong một số bài thuốc chữa đau nhức xương khớp. Sản phẩm được sơ chế, phơi hoặc sấy khô, thích hợp dùng sắc uống hay phối hợp cùng các vị thuốc khác theo hướng dẫn của người có chuyên môn.
Cây phèn đen mọc hoang ở nhiều địa phương và đôi khi được trồng làm hàng rào. Dược liệu có thể dùng ở dạng tươi hoặc khô; tùy bài thuốc, phần dùng còn được sao vàng hạ thổ trước khi sắc.
Sản phẩm cây phèn đen khô phù hợp với người đang tìm một vị thuốc dân gian để sắc uống hoặc phối hợp trong bài thuốc. Khi nhận hàng, khách nên kiểm tra màu sắc, mùi tự nhiên, độ khô và tình trạng nấm mốc trước khi sử dụng.

Tên thường gọi: cây phèn đen.
Tên khoa học: Phyllanthus reticulatus Poir.
Họ thực vật: Phyllanthaceae; một số tài liệu cũ xếp trong họ Thầu dầu – Euphorbiaceae.
Dạng sản phẩm: dược liệu khô.
Phần dùng: rễ và lá; một số kinh nghiệm dân gian còn dùng vỏ thân hoặc toàn cây tùy bài thuốc.
Cách dùng phổ biến: sắc uống, giã đắp hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.
Quy cách: đóng gói 1 kg hoặc theo quy cách thực tế tại thời điểm đặt hàng.
Phèn đen là cây bụi cao khoảng 2–4 m. Cành mảnh, lá mọc so le, phiến lá mỏng. Hoa nhỏ, mọc ở nách lá. Quả hình cầu nhỏ, khi chín chuyển màu đen. Đây là đặc điểm giúp phân biệt cây phèn đen với một số cây bụi mọc hoang có hình dáng gần giống.
Người mua dược liệu nên ưu tiên sản phẩm xác định đúng loài, đúng bộ phận dùng và có nguồn gốc rõ ràng. Không nên tự thu hái nếu chưa nhận biết chính xác cây.
Rễ và lá là hai bộ phận được dùng phổ biến. Dược liệu có thể được thu hái quanh năm, loại bỏ đất cát và phần hư hỏng, rửa sạch rồi thái đoạn. Sau đó đem phơi hoặc sấy đến khi khô hoàn toàn.
Với một số bài thuốc, rễ phèn đen được sao vàng hạ thổ trước khi sắc. Việc sao chế cần phù hợp với mục đích sử dụng; khi chưa có kinh nghiệm, nên hỏi bác sĩ Y học cổ truyền hoặc người có chuyên môn.
Các nghiên cứu về Phyllanthus reticulatus đã ghi nhận nhiều nhóm hợp chất thực vật như flavonoid, tannin, polyphenol, terpenoid và một số hợp chất khác. Thành phần có thể thay đổi theo bộ phận cây, nơi sinh trưởng và cách sơ chế.
Những dữ liệu này giúp giải thích một phần hướng sử dụng truyền thống, nhưng không đồng nghĩa mọi công dụng dân gian đều đã được chứng minh bằng thử nghiệm lâm sàng trên người.
Theo y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, cây phèn đen có vị chát, tính lạnh; thường được dùng theo hướng thu sáp, thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm và lợi tiểu. Rễ và lá được dùng chữa một số chứng thường gặp như:
Lỵ, tiêu chảy và rối loạn đường ruột theo thể phù hợp.
Mụn nhọt, sưng viêm ngoài da.
Vết bầm tím và sưng đau do va chạm.
Đau nhức xương khớp khi phối hợp với các vị thuốc khác.
Một số chứng liên quan đường tiết niệu hoặc thận trong bài thuốc dân gian phối hợp.
Hiệu quả phụ thuộc thể bệnh, cơ địa, chất lượng dược liệu và cách phối hợp. Riêng các bệnh nặng như suy thận, ứ nước thận, nhiễm trùng, đau xương khớp kéo dài hoặc có tổn thương thực thể cần được khám và theo dõi; không tự ý ngừng phác đồ đang dùng.

Dược liệu khô được rửa nhanh, cho vào ấm cùng lượng nước phù hợp rồi sắc lấy nước uống trong ngày. Liều dùng thay đổi theo phần cây, thể trạng và bài thuốc phối hợp, vì vậy không nên áp dụng một liều chung cho mọi trường hợp.
Một số bài thuốc dùng rễ phèn đen sau khi sao vàng hạ thổ. Cách chế biến này thường nhằm làm khô dược liệu, tạo mùi thơm và điều chỉnh đặc tính của vị thuốc theo kinh nghiệm cổ truyền.
Lá tươi có thể được rửa sạch, giã nát rồi đắp ngoài trong một số trường hợp bầm tím hoặc mụn nhọt. Chỉ dùng trên vùng da lành, không bôi lên vết thương sâu, diện rộng, đang chảy máu hoặc có dấu hiệu nhiễm trùng.
Các công thức dưới đây được tổng hợp từ nội dung dân gian và tài liệu y học cổ truyền. Người bệnh nên được bắt mạch, phân thể và điều chỉnh liều trước khi dùng dài ngày.
Theo bài thuốc được ghi nhận trong tài liệu cổ truyền, dùng:
Rễ phèn đen: 20 g.
Dây mơ lông: 20 g.
Rễ seo gà: 20 g.
Rễ cỏ tranh: 20 g.
Gừng tươi: 3 lát.
Sắc các vị với nước, chia uống trong ngày. Nếu tiêu chảy nhiều, có máu, sốt, mất nước hoặc đau bụng dữ dội cần đi khám sớm.
Dùng rễ phèn đen 20 g và vỏ quả lựu 20 g. Rễ phèn đen sao vàng hạ thổ, vỏ quả lựu sao vàng, sau đó sắc lấy nước uống. Nội dung cũ ghi dùng 2 lần mỗi ngày trong 3–7 ngày; thời gian thực tế nên được người có chuyên môn điều chỉnh theo tình trạng bệnh.
Dùng khoảng 30 g lá phèn đen tươi, rửa sạch, giã nát rồi đắp lên vùng bầm trong khoảng 30 phút. Không đắp lên vùng da trầy xước hoặc có biểu hiện nhiễm trùng.
Nội dung dân gian còn ghi cách dùng lá phèn đen cùng rượu. Tuy nhiên, không nên tự uống hỗn hợp dược liệu với rượu khi chưa được thầy thuốc hướng dẫn, đặc biệt với người có bệnh gan, dạ dày, thận hoặc đang dùng thuốc.
Lá phèn đen phối hợp với củ chuối, rửa sạch, giã nát và đắp ngoài theo kinh nghiệm dân gian. Nếu mụn nhọt lan rộng, sưng nóng đỏ đau, chảy nhiều mủ hoặc kèm sốt, cần được khám thay vì tự đắp kéo dài.
Công thức dân gian thường phối hợp:
Sắc lấy nước uống theo hướng dẫn của người có chuyên môn. Đây là bài thuốc phối hợp dùng chữa đau nhức theo kinh nghiệm dân gian, không nên diễn giải thành công dụng làm tiêu gai cột sống hoặc chữa khỏi tổn thương xương đã hình thành.
Nội dung được lưu truyền dùng cây phèn đen phối hợp với:
Sắc uống là cách dùng được ghi lại trong kinh nghiệm dân gian. Người suy thận, ứ nước thận, đang chạy thận, phù, tiểu ít hoặc có rối loạn điện giải không được tự dùng bài này. Cần hỏi bác sĩ Y học cổ truyền và bác sĩ đang điều trị vì liều nước, kali, tương tác thuốc và chức năng thận phải được đánh giá riêng. Có thể xem thêm nội dung về bài thuốc chữa thận hư để hiểu cách tiếp cận theo chứng trạng.
Cây phèn đen từng được ghi nhận trong một số cách xử trí dân gian. Tuy nhiên, rắn cắn là tình trạng cấp cứu: cần hạn chế vận động, cố định chi bị cắn và đưa người bệnh đến cơ sở y tế ngay. Không rạch, hút nọc, đắp lá hoặc chờ bài thuốc phát huy tác dụng.
Phèn đen thường được phối hợp thay vì dùng đơn độc. Tùy chứng trạng, thầy thuốc có thể cân nhắc cùng dây mơ lông, rễ cỏ tranh, lá lốt, cỏ xước, cây mực, cây muối hoặc quýt gai. Khách hàng có thể xem thêm bài cây phèn đen trong điều trị bệnh suy thận và bí tiểu và bài về cây phèn đen dùng cho tay chân miệng, mụn nhọt, thủy đậu để tham khảo thêm cách dùng dân gian.
Không nên tự ghép nhiều vị thuốc chỉ vì chúng có công dụng tương tự. Phối ngũ không phù hợp có thể làm thay đổi tác dụng, tăng kích ứng tiêu hóa hoặc ảnh hưởng đến thuốc đang sử dụng.
Phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú.
Trẻ nhỏ và người cao tuổi có thể trạng yếu.
Người suy gan, suy thận hoặc đang lọc máu.
Người đang dùng thuốc chống đông, thuốc tim mạch, thuốc tiểu đường, thuốc lợi tiểu hoặc nhiều thuốc cùng lúc.
Người bị tiêu chảy kéo dài, sốt, mất nước, đi ngoài ra máu.
Người có tiền sử dị ứng với dược liệu.
Dữ liệu an toàn trên người của cây phèn đen còn hạn chế. Người dùng có thể gặp khó chịu tiêu hóa hoặc phản ứng dị ứng tùy cơ địa. Khi xuất hiện ngứa, nổi mẩn, buồn nôn, đau bụng tăng, chóng mặt hoặc bất kỳ dấu hiệu bất thường nào, nên ngừng dùng và liên hệ người có chuyên môn.
Nếu đang điều trị bệnh, hãy cung cấp đầy đủ danh sách thuốc và thực phẩm bổ sung cho bác sĩ Y học cổ truyền hoặc bác sĩ phụ trách để đánh giá nguy cơ tương tác.
Đựng trong túi hoặc hộp kín sau khi mở bao bì.
Để nơi khô, thoáng, tránh nắng trực tiếp và tránh nguồn nhiệt.
Không đặt sát nền hoặc tường ẩm.
Kiểm tra định kỳ; không dùng khi dược liệu có mùi lạ, đổi màu bất thường, bị mọt hoặc nấm mốc.

Khi chọn mua cây phèn đen khô, khách hàng nên yêu cầu đơn vị bán cung cấp hình ảnh thực tế, thông tin phần cây được đóng gói, nguồn thu hái, ngày sơ chế, quy cách và hướng dẫn bảo quản. Đây là các yếu tố quan trọng hơn lời quảng cáo chung chung.
Nhà thuốc Y học cổ truyền Búp Xanh cung cấp dược liệu theo quy cách thực tế từng thời điểm. Trước khi đặt hàng, quý khách nên liên hệ để xác nhận hàng còn hay hết, giá bán, hình ảnh lô hàng, phí vận chuyển và chính sách đổi trả.
Kêu gọi hành động: Liên hệ Nhà thuốc Y học cổ truyền Búp Xanh để được tư vấn đúng phần dùng, quy cách đóng gói và cách sử dụng cây phèn đen phù hợp với nhu cầu. Với trường hợp đang có bệnh hoặc dùng thuốc, hãy trao đổi rõ tình trạng để được hướng dẫn an toàn hơn.
Theo kinh nghiệm dân gian và y học cổ truyền, cây phèn đen được dùng chữa lỵ, tiêu chảy, mụn nhọt, bầm tím và phối hợp trong một số bài thuốc chữa đau nhức xương khớp. Tác dụng cụ thể phụ thuộc thể bệnh và cách phối hợp.
Cây phèn đen có mặt trong một số bài thuốc dân gian dùng cho chứng bệnh liên quan thận và đường tiết niệu. Chưa nên coi đây là vị thuốc chữa khỏi suy thận. Người suy thận cần được bác sĩ đánh giá chức năng thận và hướng dẫn bài thuốc riêng.
Không nên tự uống kéo dài như nước giải khát. Liều và thời gian dùng phải dựa trên mục đích, bộ phận dược liệu, cơ địa và các thuốc đang sử dụng.
Kinh nghiệm dân gian có dùng nước lá để tắm khi rôm sảy hoặc một số vấn đề ngoài da. Da trẻ nhạy cảm nên cần thử trên vùng nhỏ, không tắm khi da trầy loét và nên hỏi nhân viên y tế nếu có sốt, bóng nước, chảy dịch hoặc nghi nhiễm trùng.
Dược liệu cần khô đều, có màu và mùi tự nhiên, không ẩm, không mốc, không lẫn nhiều đất cát hoặc tạp chất. Nên ưu tiên nơi bán cho xem ảnh thật và xác nhận rõ bộ phận cây.
Người rà soát nội dung: Trần Văn Bằng – Y sĩ Y học cổ truyền.
Nội dung tham khảo tên khoa học và cách dùng từ các tài liệu thực vật học, dược liệu học cùng kinh nghiệm y học cổ truyền. Những bài thuốc dân gian được trình bày để cung cấp thông tin; khi cần sử dụng nên hỏi bác sĩ Y học cổ truyền hoặc người có chuyên môn.
Người gửi / điện thoại
ĐC: E67 Đường Phú Thuân , Phường Phú Thuận, Quận 7, Hồ Chí Minh
GPKD: 41G8026476 ngày 30/07/2015 - MST: 037085015723
Email:duoclieubupxanh@gmail.com
Website: https://trungtamduoclieu.vn