Giá: 150.000 VND
Đánh giá 38 lượt đánh giá
Cây bìm bịp khô, còn gọi là xương khỉ hay mảnh cộng, là dược liệu quen thuộc trong kinh nghiệm chăm sóc gân xương và cơ thể. Thân lá được làm khô để sắc hoặc phối hợp trong những bài thuốc được ghi nhận. Búpxanh giới thiệu cây bìm bịp khô, thuận tiện lựa chọn theo nhu cầu và hướng dẫn của người có chuyên môn cho từng người dùng.
Mua 5 kg cây bìm bịp tặng 1kg
Cây bìm bịp từ lâu được người dân biết đến qua những kinh nghiệm dùng lá chăm sóc vùng sưng đau, bong gân và nhức mỏi. Cùng một loài cây này còn có các tên xương khỉ, mảnh cộng và lá cầm. Ngoài lá tươi dùng ngoài, thân lá làm khô cũng được dùng sắc riêng hoặc phối hợp trong một số bài thuốc Nam.
Nếu đang tìm cây bìm bịp khô, quý khách có thể trao đổi với Búpxanh về dạng hàng, quy cách và bộ phận phù hợp với đơn thuốc. Hiểu rõ cây, cách dùng và những nghiên cứu đã ghi nhận giúp việc lựa chọn dược liệu được thuận tiện hơn.

| Nội dung | Thông tin |
|---|---|
| Tên sản phẩm | Cây bìm bịp khô – xương khỉ, mảnh cộng |
| Tên thường gọi | Bìm bịp, xương khỉ, mảnh cộng, lá cầm |
| Tên khoa học thường dùng | Clinacanthus nutans (Burm.f.) Lindau |
| Họ thực vật | Họ Ô rô – Acanthaceae |
| Bộ phận được dùng phổ biến | Lá và phần cây trên mặt đất, gồm thân cành và lá |
| Dạng sản phẩm | Dược liệu khô; tỷ lệ thân lá và hình thức cắt theo hàng thực tế |
| Quy cách, nguồn cung cấp | Trao đổi với Búpxanh khi đặt mua |
Tên khoa học trong bài tương ứng với cây mảnh cộng được Khoa Dược Đại học Tôn Đức Thắng mô tả. Tên gọi dân gian có thể khác nhau theo vùng, vì vậy cần đối chiếu cây và bộ phận khi mua theo đơn. [1]
Trong các tài liệu được sử dụng ở bài này, bìm bịp, xương khỉ, mảnh cộng và lá cầm là những tên gọi của Clinacanthus nutans. Cây không phải là cây thuốc hay động vật nào khác chỉ vì có tên gọi gần giống. [1, 2]
Khi dùng dược liệu khô, thân cành và lá đã cắt nhỏ thường khó nhận biết hơn cây tươi. Nên chọn theo đúng tên cây và dạng dược liệu, không chỉ dựa vào lời gọi địa phương hoặc hình dạng của một mẩu lá.
Bìm bịp là cây bụi nhỏ, thân mềm, mọc đứng hoặc hơi bò, thường cao khoảng 1 m. Lá mọc đối, có cuống, phiến hình mác hoặc hình trứng thuôn, mép gần nguyên. Hoa mọc thành cụm gần đầu cành, có màu đỏ hồng đến đỏ sẫm; quả thuộc dạng quả nang. [1]
Cây phân bố tại Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam; có thể gặp ở bờ rào, bụi cây và được trồng bằng cành. Lá và cành được thu hái để dùng tươi hoặc làm khô. [1]
Thân lá khô thường gồm những đoạn thân nhỏ xen lá, màu xanh nâu hoặc nâu tùy quá trình làm khô. Tỷ lệ lá, độ dài đoạn và màu sắc có thể thay đổi theo nguyên liệu. Dược liệu nên khô, sạch và không có mùi lạ; tên loài và bộ phận cần phù hợp thông tin sản phẩm.

Theo tài liệu thực vật, lá và cành có thể thu hái quanh năm. Nguyên liệu được làm sạch, loại phần hư và phơi hoặc sấy khô để bảo quản. Cách cắt và dạng đóng gói tùy sản phẩm; khách hàng có thể hỏi Búpxanh về hàng hiện có trước khi đặt mua. [1]
Lá Clinacanthus nutans được nghiên cứu về flavonoid, đặc biệt các flavone C-glycoside như vitexin, isovitexin, orientin và schaftoside. Phần trên mặt đất còn được ghi nhận có các hợp chất chứa lưu huỳnh, sterol, triterpen và dẫn chất chlorophyll. [1]
Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng công bố những hợp chất phân lập từ thân cây bìm bịp. Thành phần khác nhau giữa thân, lá, điều kiện trồng và phương pháp chiết; hàm lượng trong sản phẩm khô cần dựa vào kết quả kiểm nghiệm thực tế. [3]

Tài liệu về mảnh cộng ghi nhận cây có vị ngọt, tính mát, công năng thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm và giảm đau. Một số nguồn còn mô tả kinh nghiệm tiêu thũng, khu ứ và sử dụng trong những bài thuốc về gân xương. [2, 4]
Lá và cành bìm bịp được dân gian sử dụng trong kinh nghiệm chăm sóc khi bong gân, sưng khớp hoặc đau mỏi. Lá tươi có thể được làm ấm và đắp theo kinh nghiệm; thân lá khô xuất hiện trong những phương sắc phối hợp với các vị khác. [1, 4]
Một số bài được công bố có bìm bịp cùng gối hạc, tầm gửi dâu, trâu cổ hoặc các vị bổ can thận. Những vị như cẩu tích, đỗ trọng và dây tơ hồng cũng được nhắc trong một phương phối hợp cụ thể trình bày bên dưới.
Mảnh cộng được ghi nhận trong một số phương phối với râu ngô, lá vọng cách, sâm đại hành và trần bì theo kinh nghiệm sử dụng ở người có vấn đề về gan. Hiệu quả được xem xét theo toàn phương, cách dùng và tình trạng của từng người. [4]
Ở Việt Nam và một số nước Đông Nam Á, lá bìm bịp tươi được nhắc đến trong kinh nghiệm dùng ngoài khi có vùng da bị kích ứng, côn trùng cắn, mụn nhọt hoặc tổn thương dạng mụn nước. Một số chế phẩm bôi từ chiết xuất cây đã được nghiên cứu trên người; cách dùng lá tươi, cây khô và chế phẩm chuẩn hóa có sự khác nhau. [1, 2]
Lá non bìm bịp được dùng nấu canh; lá khô còn được sử dụng trong chế biến bánh mảnh cộng ở một số nơi. Dân gian cũng nhắc cây trong những bài thuốc hỗ trợ thanh nhiệt, họng và tiêu hóa. Các hướng nghiên cứu về chuyển hóa, hoạt tính chống oxy hóa và các tế bào bất thường vẫn cần tiếp tục đánh giá. [2, 4]
Về gân cơ và vận động: Bìm bịp thường được nhắc trong kinh nghiệm làm dịu vùng sưng bầm do va chạm, bong gân, đau mỏi lưng và khớp. Cây có thể xuất hiện trong phương sắc phối với gối hạc, tầm gửi dâu hoặc trong phương nhiều vị dùng theo chứng phong thấp. Cách dùng ngoài thường nhắc đến lá tươi, còn dạng khô phù hợp để cân phối theo thang. [1, 4]
Về gan và tiêu hóa: Kinh nghiệm dân gian có phương phối cây mảnh cộng với râu ngô, lá vọng cách, lá quao, sâm đại hành và trần bì. Có nguồn ghi cây dùng trong các trường hợp viêm gan mạn hoặc vàng da; đó là tên tình trạng được ghi trong kinh nghiệm của toàn phương, chưa chứng minh riêng bìm bịp có khả năng điều trị từng nguyên nhân gây bệnh gan. [4, 5]
Về da và niêm mạc: Lá tươi được dùng dân gian cho vùng da sưng, ngứa, mụn nhọt, côn trùng đốt và tổn thương dạng mụn nước. Bên cạnh kinh nghiệm này, chiết xuất chuẩn hóa trong các chế phẩm bôi đã được khảo sát lâm sàng trên tổn thương do herpes và loét miệng. [1, 10]
Về chuyển hóa, đường huyết và sức khỏe chung: Một số dịch chiết được khảo sát trên động vật hoặc tế bào về chuyển hóa và oxy hóa. Đây là những hướng nghiên cứu của cây, còn tác dụng điều hòa đường huyết hoặc mỡ máu của nước sắc thân lá khô ở người chưa được xác định đầy đủ. [11]
Về bài thuốc dành cho người có ung bướu: Mảnh cộng xuất hiện trong các bài thuốc dân gian hoặc hỗ trợ được thầy thuốc gia giảm. Các nghiên cứu phòng thí nghiệm cho thấy một số phân đoạn có hoạt tính trên dòng tế bào nuôi cấy; không thể suy ra mức hiệu quả của một phương thuốc uống từ kết quả này. [4, 9]

Bìm bịp có thể dùng tươi hoặc khô; lá tươi thường được ghi nhận trong kinh nghiệm dùng ngoài, còn thân lá khô thường được sắc hoặc phối trong thang. [1, 4]
Một nguồn phổ biến cây thuốc ghi 20–30 g cây bìm bịp khô sắc uống; một bài phối hợp khác ghi 30 g toàn cây khô cùng các vị khác. Đây là lượng tham khảo theo từng nguồn và phương, không phải liều điều trị đã được xác lập cho mọi bệnh hoặc mọi người. [4]
| Cách dùng được ghi nhận | Lượng bìm bịp | Phạm vi |
|---|---|---|
| Sắc độc vị | 20–30 g cây khô | Nguồn phổ biến cây thuốc; chọn liều theo hướng dẫn chuyên môn [4] |
| Phối hợp trong bài về gan | 30 g toàn cây khô | Dùng cùng năm vị khác theo công thức ghi nhận [4] |
| Dùng ngoài theo kinh nghiệm | Lá tươi hoặc hỗn hợp có lá tươi | Không tự đổi từ số gam lá tươi sang cây khô [4] |
Thời gian sắc, số lần uống và thời gian sử dụng tùy phương được hướng dẫn. Liều cao chiết trong thí nghiệm hoặc tỷ lệ chiết xuất trong kem bôi không được quy đổi trực tiếp thành lượng cây khô.
Các phương sau được tổng hợp từ tài liệu đã công bố, mang tính tham khảo. Những vị có tên địa phương cần được xác định đúng trước khi phối; liều và liệu trình cần được thầy thuốc xem xét theo từng người.
Nguồn: Cây Thuốc Quanh Ta, mục bài thuốc cây bìm bịp. [4]
Thành phần: Cây bìm bịp khô 20–30 g.
Cách dùng được ghi nhận: Sắc nước uống. Nguồn không nêu cụ thể lượng nước, thời gian sắc và tỷ lệ thân lá; cần xác định cách dùng phù hợp khi áp dụng. Nguồn giới thiệu trong kinh nghiệm hỗ trợ người có ung bướu; đó không phải kết quả thử nghiệm chứng minh hiệu quả của nước sắc ở người.
Nguồn: Cây Thuốc Quanh Ta và bài viết của chuyên trang Dân tộc và Phát triển. [4, 5]
Thành phần: Toàn cây mảnh cộng khô 30 g, râu ngô 20 g, lá vọng cách 12 g, lá quao 12 g, sâm đại hành 16 g, trần bì 10 g.
Cách dùng được ghi nhận: Sắc với 1.000 ml nước, giữ sôi nhỏ khoảng 30 phút, chia ba lần dùng trong ngày. Nguồn chỉ nêu rõ bìm bịp khô; cần xác định dạng các vị còn lại trước khi áp dụng. Có thể xem thêm sản phẩm cây vọng cách để tìm hiểu vị lá trong phương.
Nguồn: Cây Thuốc Quanh Ta, phần kinh nghiệm được giới thiệu theo BS Hoàng Long. [4]
Thành phần: Toàn cây mảnh cộng 30 g, rễ và thân gối hạc 20 g, toàn cây trâu cổ 20 g, tầm gửi cây dâu 20 g.
Cách dùng được ghi nhận: Sắc với 1.200 ml nước còn khoảng 300 ml, chia ba lần sau bữa ăn. Nguồn giới thiệu dùng 5–15 ngày nhưng không nêu rõ trạng thái tươi hoặc khô của từng vị; cần đối chiếu trước khi phối.
Nguồn: Cây Thuốc Quanh Ta, phần giới thiệu theo BS Hoàng Long. [4]
Thành phần: Toàn cây mảnh cộng 12 g, dây trâu cổ 12 g, dây tơ hồng xanh 10 g, đậu đen sao thơm 12 g, ba kích nhục 12 g, cẩu tích 12 g, đỗ trọng 12 g, đương quy 12 g, thục địa chế 16 g, tang ký sinh 16 g.
Cách dùng được ghi nhận: Sắc với 1.200 ml nước còn khoảng 300 ml, chia hai hoặc ba lần sau ăn. Nguồn nêu liệu trình 5–15 ngày; dạng tươi hoặc khô của các vị không được mô tả đầy đủ. Khách hàng có thể tìm hiểu thêm ba kích và dây tơ hồng khi đối chiếu phương.
Tài liệu về mảnh cộng ghi nhận lá tươi được giã hoặc làm nóng, dùng ngoài trong kinh nghiệm về bong gân và vùng khớp sưng đau. Đây là cách dùng lá tươi, không phải công thức đã được chuẩn hóa cho bìm bịp khô. [1, 4]

Các công trình dưới đây được chọn theo khả năng đối chiếu nguồn đến tháng 10/2026. Từng công trình dùng bộ phận, dung môi và mô hình khác nhau; những kết quả trên chiết xuất cần được hiểu đúng phạm vi khi tham khảo cho cây khô.
Sangkitporn và cộng sự khảo sát chế phẩm bôi chứa chiết xuất Clinacanthus nutans trong thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng giả dược trên 51 người bị zona. Nhóm dùng chế phẩm có số người đóng vảy trong ba ngày và lành tổn thương trong bảy đến mười ngày cao hơn nhóm giả dược. Nghiên cứu cho thấy tiềm năng của một dạng bào chế cụ thể trong chăm sóc tổn thương da. [6]
Một tổng quan năm 2018 ghi nhận nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi với 120 người sử dụng kem chứa 5% chiết xuất bìm bịp hoặc giả dược. Tác giả ghi nhận các chỉ số về thời gian lành tổn thương và triệu chứng có xu hướng thuận lợi hơn ở nhóm dùng kem. Khác biệt giữa các nghiên cứu về cách đo và cách dùng cần được xem xét khi so sánh. [10]
Kongkaew và Chaiyakunapruk tổng hợp bốn thử nghiệm ngẫu nhiên, tổng số 286 người, về các chế phẩm bôi ở herpes sinh dục và zona. Một số kết quả về đóng vảy, lành tổn thương gợi ý lợi ích. Các nghiên cứu có quy mô và thiết kế khác nhau; nhóm tác giả đề xuất thêm thử nghiệm chặt chẽ hơn. [7]
Tổng quan năm 2018 mô tả một thử nghiệm đối chứng mù đôi trên 43 người bị loét miệng tái phát. Chế phẩm bìm bịp trong nền bôi niêm mạc được báo cáo có kết quả lành loét tốt hơn giả dược nhưng thấp hơn chế phẩm triamcinolone trong cùng thử nghiệm. Đây là nghiên cứu của dạng bào chế dùng tại chỗ, không phải nước sắc cây khô. [10]
Kuan và cộng sự công bố năm 2026 khảo sát một kem bìm bịp trên 92 người trưởng thành khỏe mạnh. Ba người xuất hiện viêm da tiếp xúc dị ứng mức nhẹ, một người không dung nạp khi tiếp xúc kéo dài; các biểu hiện được báo cáo là nhẹ và hồi phục. Kết quả nhắc rằng sản phẩm từ thảo dược vẫn có thể gây kích ứng hoặc dị ứng ở một số người. [12]
Nhóm nghiên cứu tại Đại học Y Dược Cần Thơ khảo sát rễ, thân và lá thu hái ở An Giang, chiết bằng ethanol và phân đoạn. Trong các phép thử liên quan đến biến tính protein và ức chế proteinase, cao từ thân và phân đoạn ethyl acetate cho hoạt tính nổi bật hơn các mẫu so sánh. Đây là nghiên cứu in vitro, không chứng minh thân khô hiệu quả hơn lá khô ở người. [13]
Hua H. Oanh và cộng sự sử dụng cao nước và cao ethanol 40% từ thân lá bìm bịp trồng ở Việt Nam, khảo sát trên chuột nhắt, mỗi nhóm sáu con. Nhóm tác giả ghi nhận tác động theo liều ở mô hình phù bàn chân và thử nghiệm ngưỡng đáp ứng với nhiệt. Liều cao chiết tính theo thể trọng chuột không phải liều cây khô cho người. [14]
Ismail và cộng sự năm 2022 khảo sát phân đoạn chiết xuất bìm bịp trên dòng tế bào ung bướu vú MCF-7 trong phòng thí nghiệm. Một phân đoạn làm giảm khả năng sống và tăng các dấu hiệu chết tế bào theo chương trình. Nghiên cứu làm rõ tiềm năng của phân đoạn trong ống nghiệm; không xác định tác dụng của bìm bịp khô sắc uống ở người. [9]
Những hợp chất từ lá, gồm một số glycoglycerolipid, được khảo sát với virus herpes trên tế bào nuôi cấy. Kết quả thay đổi theo loại chiết xuất, chủng virus và thời điểm xử lý; không phải mọi mẫu đều có cùng tác dụng. Điều này hỗ trợ nghiên cứu bào chế nhưng không chứng minh nước sắc có khả năng diệt virus trong cơ thể. [1, 10]
Nghiên cứu năm 2025 trên chuột khảo sát polysaccharide chiết từ lá ghi nhận thay đổi chỉ số ALP gợi ý ảnh hưởng gan mức nhẹ ở các nhóm dùng liều cao trong 14 ngày. Đó là kết quả của một chế phẩm và mô hình cụ thể; không nên suy ra liều an toàn hoặc độc tính của lá khô ở người. Dữ liệu về dùng kéo dài và tương tác thuốc vẫn cần bổ sung. [15]
Giá trị của bìm bịp được thể hiện qua kinh nghiệm dùng lá, các phương phối hợp và những kết quả nghiên cứu bước đầu. Bằng chứng trên người rõ nhất trong các nguồn đã đối chiếu chủ yếu thuộc nhóm chế phẩm bôi ngoài; các hướng về gan, xương khớp, chuyển hóa và ung bướu còn cần nghiên cứu lâm sàng phù hợp với từng dạng dùng.
Để dược liệu trong túi hoặc lọ kín, nơi khô thoáng, tránh ánh nắng và hơi ẩm. Đóng kín sau mỗi lần lấy. Hạn dùng theo nhãn thực tế; không sử dụng khi có dấu hiệu mốc, mùi lạ hoặc hư hỏng.

Mua sản phẩm tại Búpxanh, bạn đặt niềm tin đúng chỗ. Quý khách có thể liên hệ để hỏi cây bìm bịp khô, dạng thân lá, khối lượng và cách đóng gói. Búpxanh trao đổi thông tin hóa đơn, giao nhận và đổi trả theo chính sách áp dụng tại thời điểm đặt hàng.
Khách hàng tìm hiểu các vị thường gặp trong những nhóm bài thuốc Nam có thể xem thêm cây cỏ xước, thiên niên kiện, cây an xoa và cây cà gai leo. Mỗi dược liệu có đặc điểm và cách dùng riêng.
Trong bài này, bìm bịp, xương khỉ và mảnh cộng là các tên gọi của Clinacanthus nutans. Tên gọi địa phương có thể khác nhau nên cần nhận đúng cây khi mua.
Lá và phần trên mặt đất là những bộ phận được dùng phổ biến. Dạng hàng thực tế có thể có tỷ lệ thân và lá khác nhau.
Một nguồn giới thiệu 20–30 g cây khô sắc uống; bài phối hợp có thể ghi lượng khác. Nên lựa chọn liều theo đúng dạng hàng và hướng dẫn chuyên môn.
Không nên tự đổi cùng số gam. Lá tươi có độ ẩm và cách dùng khác thân lá khô, nhất là với những phương dùng ngoài.
Đã có một số thử nghiệm trên người với chế phẩm bôi ngoài từ chiết xuất cây, trong đó có nghiên cứu về zona và herpes. Kết quả này cần được hiểu theo đúng chế phẩm và cách dùng đã nghiên cứu.

Nên tham vấn bác sĩ y học cổ truyền hoặc người có chuyên môn để chọn đúng loài, bộ phận, liều và thời gian dùng. Phụ nữ mang thai, cho con bú, trẻ nhỏ, người suy gan, suy thận hoặc đang dùng thuốc cần được tư vấn trước; thông tin về tương tác thuốc và an toàn khi dùng lâu dài còn hạn chế. Người bệnh đang điều trị ung bướu nên trao đổi với bác sĩ điều trị trước khi dùng dược liệu phối hợp. Khi nghi gãy xương, vết thương hở hoặc tổn thương da lan rộng, cần được thăm khám; không tự đắp dược liệu lên mắt hoặc vết thương hở. Rắn cắn cần được cấp cứu, không trì hoãn để dùng lá đắp.
Khoa Dược, Đại học Tôn Đức Thắng. “Mảnh cộng”, mô tả Clinacanthus nutans, bộ phận dùng và nghiên cứu.
Viện Y học bản địa Việt Nam. “Clinacanthus nutans (Burm. f.) Lindau – Mảnh cộng”, thông tin thực vật và ứng dụng dân gian.
Tạp chí Dược học. “Bốn hợp chất isoflavonoid phân lập từ thân cây bìm bịp (Clinacanthus nutans)”.
Cây Thuốc Quanh Ta. “Cây Mảnh cộng, cây bìm bịp, cây xương khỉ”, các phương dân gian được ghi nhận.
Chuyên trang Dân tộc và Phát triển, VietNamNet. “Bài thuốc với cây xương khỉ”, 2020.
Sangkitporn S và cộng sự. Treatment of herpes zoster with Clinacanthus nutans extract. Nghiên cứu đối chứng giả dược, PMID: 8576675.
Kongkaew C, Chaiyakunapruk N. Efficacy of Clinacanthus nutans extracts in patients with herpes infection: systematic review and meta-analysis of randomised clinical trials. Complementary Therapies in Medicine. 2011;19:47–53. DOI: 10.1016/j.ctim.2010.12.003.
Tạp chí Dược học. “Nghiên cứu hoạt tính kháng viêm từ thân cây bìm bịp (Clinacanthus nutans)”.
Ismail NZ và cộng sự. The antiproliferative and apoptotic potential of Clinacanthus nutans extract on cultured breast cancer cells, 2022. PMID: 35737268.
Khoo LW và cộng sự. A comprehensive review on phytochemistry and pharmacological activities of Clinacanthus nutans. 2018. DOI: 10.1155/2018/9276260.
Frontiers in Pharmacology. The phytochemistry and pharmacological activities of Clinacanthus nutans: current evidence, mechanistic insights, and future therapeutic perspectives. 2026. DOI: 10.3389/fphar.2026.1900216.
Kuan HS, Ab Wahab S, Taib T. Evaluation of irritation and delayed hypersensitivity potential of a Clinacanthus nutans cream: a phase 1 clinical trial. 2026. DOI: 10.24191/IJPNaCS.v9i1.06.
Phạm Trịnh Thái Bình và cộng sự. Đánh giá hoạt tính kháng viêm của Clinacanthus nutans bằng các mô hình in vitro. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, số 26, tr. 158–164.
Hua HH Oanh và cộng sự. Analgesic and anti-inflammatory effects of Clinacanthus nutans cultivated in Vietnam in experimental murine models. 2026. DOI: 10.26538/tjnpr/v10i7.63.
Acute and subacute oral toxicity assessment of the polysaccharides extracted from Clinacanthus nutans leaves: a preclinical model for drug safety screening. 2025. PMID: 40567812.
Người gửi / điện thoại
Cây xương khỉ tươi bao nhiêu 1kg ạ, có ship Tây Ninh không?
Trả lờiĐC: E67 Đường Phú Thuân , Phường Phú Thuận, Quận 7, Hồ Chí Minh
GPKD: 41G8026476 ngày 30/07/2015 - MST: 037085015723
Email:duoclieubupxanh@gmail.com
Website: https://trungtamduoclieu.vn