Giá: 180.000 VND
Đánh giá 3 lượt đánh giá
Cẩu tích khô là thân rễ cây lông cu ly đã loại lông, được dùng trong y học cổ truyền để bổ can thận, mạnh gân xương và trừ phong thấp. Vị thuốc thường phối hợp trong các bài đau lưng, mỏi gối theo thể bệnh. Khi mua tại Búpxanh, cần xác nhận dạng cắt, tình trạng bào chế, khối lượng và cách dùng phù hợp trước khi sử dụng.
Cẩu tích là vị thuốc quen thuộc trong các bài thuốc bổ can thận, mạnh gân xương, trừ phong thấp. Người tìm mua thường quan tâm đến đau lưng, mỏi gối, chân tay nhức mỏi hoặc cần đúng vị cho một đơn đã kê. Điểm cần kiểm tra trước tiên là hàng cung cấp có đúng thân rễ cẩu tích đã loại lông, dạng cắt và dạng chế có phù hợp với yêu cầu sử dụng hay không.
Cẩu tích khô tại Búpxanh được giới thiệu để khách hàng tìm hiểu và lựa chọn dược liệu theo nhu cầu. Khi đặt, nên xác nhận khối lượng, ảnh hàng thực tế, tình trạng sơ chế và thông tin nhãn. Không đồng nhất thân rễ dùng sắc với lớp lông vàng bên ngoài, dù cả hai đều xuất hiện trong kinh nghiệm sử dụng cây lông cu ly.
| Nội dung | Thông tin |
|---|---|
| Tên sản phẩm | Cẩu tích khô |
| Tên gọi quen thuộc | Kim mao cẩu tích, cây lông cu ly, lông cu li, cây lông khỉ |
| Tên khoa học | Cibotium barometz (L.) J.Sm. |
| Tên vị thuốc | Cibotii Rhizoma, Rhizoma Cibotii |
| Bộ phận dùng làm thuốc uống | Thân rễ đã loại lông, phơi hoặc sấy khô |
| Dạng thường gặp | Đoạn thân rễ, phiến khô, dạng đã chế theo yêu cầu bài thuốc |
| Quy cách | Xác nhận khối lượng và kiểu cắt theo hàng đang cung cấp |
| Xuất xứ, hạn dùng | Căn cứ nhãn và thông tin của lô hàng |
Tên Cibotium barometz được Kew chấp nhận. Tài liệu có thể xếp cây vào các phạm vi họ khác nhau: nhiều y văn cũ dùng Dicksoniaceae, trong các hệ thống khác gặp Cibotiaceae; hồ sơ Kew được đối chiếu hiện xếp trong Cyatheaceae. Sự khác biệt về phạm vi họ cần được đọc cùng tên loài, không tự coi là ba dược liệu khác nhau. [1]
“Cẩu tích” gắn với hình dạng thân rễ có lớp lông vàng. Tuy tên gọi dân gian có chữ “rễ”, bộ phận dược liệu chính xác là thân rễ, không phải rễ con. Khi mua hàng đã thái, định danh loài và bộ phận dùng quan trọng hơn tên gọi trên một ảnh minh họa.

Cẩu tích thuộc nhóm dương xỉ, lá lớn, xẻ nhiều lần; thân rễ được phủ lớp lông vàng nâu đặc trưng. Cây sinh sản bằng bào tử, không phải cây có hoa, quả như nhiều dược liệu quen thuộc. [2]
Thân rễ nguyên có hình dạng gồ ghề. Lớp lông nổi bật giúp nhận biết cây, nhưng nhiều lông không phải tiêu chí chọn hàng để sắc uống. Hàng dùng theo đơn cần được sơ chế thích hợp, loại lông theo yêu cầu.
Dược liệu có thể ở dạng đoạn cứng hoặc phiến. Bề mặt và mặt cắt thường mang các sắc nâu, nâu hồng hay nâu nhạt, thay đổi theo chế biến; không đánh giá đúng loài hoặc chất lượng chỉ bằng màu. [2]
Khi nhận hàng, kiểm tra độ khô, mùi, lượng tạp và phần lông còn sót. Không sử dụng miếng mốc, bết ẩm, mùi chua, cháy khét bất thường hoặc có dấu hiệu hư hỏng. Việc kiểm tra cảm quan giúp sàng lọc, còn định danh và chỉ tiêu chất lượng cần hồ sơ hoặc kiểm nghiệm khi cần thiết.
Cẩu tích, cốt toái bổ, tục đoạn và đỗ trọng có thể cùng xuất hiện trong một bài nhưng khác loài, bộ phận và công năng. Không đổi ngang số gam chỉ vì cùng được giới thiệu cho đau lưng hay gân xương. Nếu đơn có ngưu tất, cũng cần xác nhận đúng loại, không tự thay bằng mọi cây có tên cỏ xước.
Cibotium barometz phân bố ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới châu Á, trong đó có Việt Nam. Cây thường được ghi nhận ở sinh cảnh rừng ẩm. [1,2] Địa điểm phân bố của cây không tự trở thành xuất xứ của lô hàng thương mại.
Khi tìm mua, nên hỏi thông tin nguồn cung được công bố và yêu cầu chứng từ phù hợp với giao dịch. Không mặc định hàng “rừng tự nhiên” tốt hơn hàng có nguồn cung được quản lý; những tuyên bố xuất xứ, phương pháp khai thác hay chứng nhận đều cần căn cứ riêng.
Lông vàng phủ thân rễ là một bộ phận khác với phần thân rễ được cân vào thang thuốc. Dược liệu cần được loại lông, làm sạch và chuẩn bị đúng trước khi sắc; không chỉ bẻ nhỏ một khối còn nguyên lông rồi đun uống.
Tài liệu có ghi nhận chế biến bằng nhiệt, làm mềm, thái và các dạng chế khác nhau. [2] Những thao tác này cần được thực hiện bởi người có kinh nghiệm hoặc cơ sở chuyên môn. Người mua nên hỏi rõ hàng đã sơ chế đến bước nào thay vì tự coi thao tác rang cháy bên ngoài là đã bào chế đạt yêu cầu.
“Khô” mô tả trạng thái nguyên liệu; “chế rượu”, “chế muối” là những thông tin khác về quá trình chế biến. Không xem các tên này là đồng nghĩa. Khi đơn yêu cầu dạng đã chế, cần mua đúng dạng, không tự thêm rượu hay muối vào nước sắc để thay cho quy trình bào chế.
Nghiên cứu hóa thực vật trên thân rễ đã phân lập nhiều hợp chất. Công trình năm 2009 ghi nhận tám chất, trong đó có cibotiumbaroside A, cibotiumbaroside B và cibotiglycerol; một số chất được khảo sát về khả năng ảnh hưởng đến hình thành hủy cốt bào. [4]
Các nghiên cứu khác tập trung vào polysaccharide, liên quan đến những mô hình tạo xương và tế bào sụn. [6,7] Những nhóm chất này giúp mở rộng cơ sở nghiên cứu của vị thuốc, nhưng chưa cho biết hàm lượng trong từng túi hàng đang bán.
Không lấy thành phần của cao chiết hoặc chất phân lập để quảng cáo dược liệu đã chuẩn hóa hoạt chất khi chưa kiểm nghiệm. Cũng không dùng dữ liệu của lông thân rễ để khẳng định thành phần và hiệu quả của thân rễ đã loại lông.

Cẩu tích được mô tả có vị đắng, ngọt, tính ôn, quy kinh Can và Thận. Công năng cốt lõi là bổ can thận, mạnh gân xương, trừ phong thấp. [2]
Trong lý luận cổ truyền, cẩu tích thường được chọn khi đau mỏi lưng gối gắn với can thận hư, gân xương yếu. “Bổ can thận” cần được hiểu trong hệ thống biện chứng, không đồng nghĩa một vị thuốc chữa mọi bệnh của gan và thận theo chẩn đoán hiện đại.
Người đau lưng sau lao động, người cao tuổi mỏi gối hoặc người chân yếu có thể cần những cách xử trí khác nhau. Đau do cơ, thoái hóa, chèn ép thần kinh, loãng xương hay bệnh tiết niệu cần được nhận định trước khi chọn bài thuốc.
Cẩu tích được ghi nhận trong các bài thuốc cho chứng phong hàn thấp, chân tay nhức mỏi và lưng gối đau. [2,3] Trong thực hành, thầy thuốc thường xem đặc điểm đau, cảm giác lạnh hoặc nóng, mức độ sưng và khả năng vận động để lựa chọn phép phối hợp.
Khớp sưng nóng đỏ, sốt hoặc đau tăng nhanh không nên được quy chung thành “phong thấp” rồi tự sắc thuốc kéo dài. Vị thuốc có tính ôn cũng không phải lựa chọn mặc định cho mọi thể đau khớp.
Kinh nghiệm truyền thống còn ghi nhận cẩu tích trong một số chứng tiểu nhiều, tiểu không tự chủ đi kèm biểu hiện thận hư và lưng gối mỏi. [3] Cần phân biệt với tiểu nhiều do uống nhiều nước, đái tháo đường, dùng lợi tiểu hoặc bệnh đường tiểu.
Tiểu buốt, sốt, tiểu máu hoặc bí tiểu cần được khám. Cẩu tích không nên được giới thiệu chung là “thải độc thận” hay “chữa suy thận” từ công năng bổ thận cổ truyền.
Một số bài thuốc có cẩu tích được ghi nhận trong chứng đới hạ, kèm mỏi lưng hoặc biểu hiện hư yếu. [3] Đây là hướng dùng theo thể bệnh; khí hư đổi màu, có mùi, ngứa hoặc đau bụng cần tìm nguyên nhân phụ khoa, không tự coi tất cả là chứng hư để dùng thuốc bổ.
Y văn còn lưu truyền cách dùng lông vàng để cầm máu ngoài da. [5] Ghi nhận này cần được giữ đúng bộ phận và hoàn cảnh; không đồng nghĩa thân rễ sắc uống có chỉ định cầm máu, cũng không phải lý do đắp lông thô không vô khuẩn vào vết thương.
| Hoàn cảnh | Mục đích cân nhắc | Điều kiện cần xem xét |
|---|---|---|
| Người trưởng thành đau lưng, mỏi gối kéo dài | Phối hợp theo phép bổ can thận, mạnh gân xương | Đã đánh giá nguyên nhân đau, thể bệnh phù hợp |
| Người nhức mỏi, tê đau khi lạnh ẩm | Cân nhắc bài trừ phong thấp | Phân biệt với viêm khớp cấp, bệnh thần kinh và rối loạn tuần hoàn |
| Người cao tuổi tiểu nhiều kèm lưng gối mỏi | Xem xét cách dùng theo YHCT | Loại trừ đái tháo đường, bệnh tuyến tiền liệt, nhiễm trùng và tác dụng thuốc |
| Người cần dược liệu cho đơn đã kê | Mua đúng vị, dạng chế và số gam | Đối chiếu đơn, không tự thêm nhiều vị cùng công dụng |
| Người có loãng xương hoặc yếu cơ | Tìm hiểu cơ sở nghiên cứu của vị thuốc | Chưa đủ căn cứ tự dùng để thay đổi phác đồ hoặc bỏ theo dõi chuyên khoa |
Người chưa rõ nguyên nhân đau không nên tự chọn cẩu tích chỉ từ tên bệnh tìm thấy trên mạng. Cần đánh giá sớm nếu đau sau chấn thương, đau đêm nhiều, giảm chiều cao, yếu chân tiến triển hoặc thay đổi kiểm soát đại tiểu tiện.
Tài liệu Đỗ Tất Lợi ghi nhận 10–18g/ngày, dạng sắc. [5] Chuyên mục dược liệu của Khoa Dược, Đại học Tôn Đức Thắng dẫn khoảng 10–20g/ngày. [2] Đây là liều tham khảo cho thân rễ đã chuẩn bị đúng, không phải hướng dẫn dùng lông hoặc tự tăng lượng để giảm đau nhanh.
Bài phối hợp có thể dùng liều cụ thể khác theo nguồn và chỉ định. Trẻ em, thai phụ, người suy gan hoặc suy thận không áp dụng trực tiếp liều người lớn. Cao chiết trong thí nghiệm cũng không được đổi ngang thành cùng số gam dược liệu.
Dược liệu còn nguyên khối, cứng hoặc nhiều lông nên được cơ sở cung cấp chuẩn bị lại đúng yêu cầu. Không tự nghiền thành bột để né bước xử lý lông. Hãm nhanh vài miếng như trà cũng không mặc nhiên tương đương một thang sắc.

Các công thức dưới đây mang tính tham khảo, cần được lựa chọn theo người bệnh. Không tự đặt liệu trình khi nguồn không xác định thời gian; không thêm hoặc bỏ vị rồi coi bài vẫn giữ nguyên tác dụng.
Nguồn: Đỗ Tất Lợi, mục Cẩu tích, bản trình bày của VNRAS. [5]
Ngưu tất là vị phối hợp thực sự có trong bài. Cần mua đúng dược liệu và xem xét toàn bộ đơn, đặc biệt với thai phụ hoặc người đang dùng nhiều thuốc. Nguồn có nhắc cách thêm rượu tùy trường hợp; bài này trình bày phần sắc nước, không coi rượu là điều kiện bắt buộc.
Nguồn: Chuyên mục Cẩu tích của Bệnh viện Nguyễn Tri Phương. [3]
Nguồn không nêu lượng nước cụ thể, nên không tự đặt tỷ lệ nước rồi gán cho bài gốc. Trước khi dùng cần xác định đau thuộc thể phù hợp, không tự dùng cho đau bụng lan ra lưng hoặc cơn đau do bệnh tiết niệu.
Nguồn: Bệnh viện Nguyễn Tri Phương. [3]
Giữ đúng tên vị nguồn ghi là dây tơ hồng, không tự đổi thành hạt thỏ ty tử. Đới hạ hoặc tiểu nhiều cần được đánh giá nguyên nhân; đây không phải một đơn áp dụng chung cho mọi triệu chứng phụ khoa hay tiết niệu.
Nguồn: Bệnh viện Nguyễn Tri Phương. [3]
Tên uy linh tiên nam cần được định danh đúng, không tự thay mọi cây mang tên uy linh tiên. Không dùng công thức này để trì hoãn khám khi khớp sưng nóng, sốt hoặc mất khả năng chịu lực.
Một bài thuốc cần đủ thành phần, dạng chế và đối tượng; danh sách vị là chưa đủ để tự điều trị. Các bài có ô đầu, phụ tử, mã tiền hoặc nguyên liệu cần kiểm soát đặc biệt phải do người có chuyên môn quyết định. Bản này không biến những công thức như vậy thành hướng dẫn tự pha chế tại nhà.
Công trình năm 2009 phân lập các hợp chất từ thân rễ và đánh giá trên mô hình tế bào. Một số chất, trong đó có cibotiumbaroside B và cibotiglycerol, thể hiện khả năng ức chế hình thành hủy cốt bào trong điều kiện khảo sát. [4]
Hủy cốt bào tham gia quá trình tiêu xương; tác động lên tế bào này tạo cơ sở nghiên cứu chuyển hóa xương. Tuy nhiên, một hoạt chất có tác dụng trong mô hình nuôi cấy chưa xác lập hiệu quả chống gãy xương khi uống dược liệu khô.
Nghiên cứu năm 2011 khảo sát cao chiết cẩu tích trên 72 chuột cái, dùng mô hình mất xương sau cắt buồng trứng. Tác giả ghi nhận tác động tích cực lên mật độ, sức bền và vi cấu trúc xương trong các điều kiện nghiên cứu. [6]
Đây là dữ liệu tiền lâm sàng liên quan đến mất xương do thiếu estrogen. Không suy kết quả thành liều điều trị loãng xương cho phụ nữ sau mãn kinh hoặc bỏ các biện pháp theo dõi mật độ xương, dinh dưỡng và điều trị đã được kê.
Công trình về hai polysaccharide từ thân rễ, công bố năm 2020, khảo sát tế bào MC3T3-E1 và ghi nhận tác động lên quá trình tạo xương, liên quan đến đường tín hiệu BMP2/SMAD1. [7]
Giá trị ở đây là giải thích một phần hoạt tính của phân đoạn polysaccharide. Mức chiết, độ tinh sạch và điều kiện thử khác với nước sắc thông thường; chưa thể từ đó cam kết uống cẩu tích giúp liền xương nhanh hoặc phục hồi xương tổn thương ở người.
Nghiên cứu năm 2017 ghi nhận polysaccharide cẩu tích thúc đẩy tăng sinh tế bào sụn trong mô hình in vitro, liên quan đến chuyển tiếp chu trình tế bào G1/S. [8]
Kết quả hỗ trợ hướng nghiên cứu sụn, không chứng minh dược liệu uống mọc lại sụn hay xóa gai xương. Với đau khớp, cần xem đồng thời chức năng vận động, cân nặng, cơ quanh khớp và chẩn đoán nguyên nhân.
Công trình năm 2026 tiếp tục khảo sát cao Cibotii Rhizoma trên mô hình mất xương do viêm gây bằng LPS, tập trung vào tín hiệu RANK và quá trình hình thành hủy cốt bào. [9] Nghiên cứu mở rộng cơ sở tiền lâm sàng về tiêu xương liên quan đến viêm.
Đây chưa phải thử nghiệm điều trị trên người. Không lấy thuật ngữ chống viêm trong mô hình này để quảng cáo cẩu tích phù hợp cho mọi bệnh viêm khớp hoặc thay đổi thuốc điều trị bệnh tự miễn.
Năm 2023, cao ethanol thân rễ được nghiên cứu trên ống cơ C2C12 gây teo bằng dexamethasone. Công trình khảo sát tác động theo hướng hạn chế teo cơ trong mô hình thực nghiệm. [10]
Hướng này liên quan đến việc tìm hiểu cơ sở cho công dụng mạnh gân xương, nhưng chưa xác định hiệu quả ở người già yếu cơ, người nằm lâu hoặc người đang dùng corticoid. Không tự giảm corticoid hoặc dùng cẩu tích để phòng tác dụng phụ của thuốc.
Có công trình riêng khảo sát hoạt tính chống oxy hóa và kháng vi sinh vật của dịch chiết lông thân rễ. [11] Cần phân biệt nghiên cứu dịch chiết có kiểm soát với việc dùng lông nguyên trạng, và phân biệt bộ phận này với thân rễ khô bán để sắc.
Các hoạt tính này không bảo đảm lông thô vô khuẩn hay phù hợp để nhét vào vết thương. Với chảy máu ngoài da, ưu tiên ép trực tiếp bằng gạc sạch và xử trí y tế khi cần.
Cẩu tích được ghi nhận trong các bài phối hợp cho đau lưng, mỏi gối, phong thấp và một số biểu hiện hư yếu. Việc áp dụng cần biện chứng, chọn đúng dạng chế và theo dõi đáp ứng. Kinh nghiệm dùng thuốc là một phần bằng chứng, nhưng không nên diễn đạt như đã có thử nghiệm đối chứng cho từng bệnh danh hiện đại.
Năm 2024, một thử nghiệm ngẫu nhiên có làm mù trên 76 người so sánh nước súc miệng chứa chiết xuất Cibotium barometz với chlorhexidine và nước muối, theo dõi trong hai tuần. Tác giả ghi nhận cải thiện một số chỉ số mảng bám, hoạt tính liên quan sâu răng và xét nghiệm nước bọt; đồng thời lưu ý khác biệt tình trạng răng miệng ban đầu giữa các nhóm và nhu cầu nghiên cứu thêm. [12]
Đây là dữ liệu lâm sàng đáng ghi nhận cho một chế phẩm dùng tại miệng, không phải thử nghiệm uống thân rễ để trị đau lưng hoặc loãng xương. Không tự sắc cẩu tích làm nước súc miệng theo nồng độ suy đoán từ nghiên cứu.
| Nội dung | Mức bằng chứng được đối chiếu | Ý nghĩa khi tư vấn |
|---|---|---|
| Bổ can thận, mạnh gân xương, phong thấp | Y văn và thực hành cổ truyền | Cần chọn thể bệnh và bài phối hợp |
| Chuyển hóa xương, tế bào sụn | Tế bào và động vật | Cơ sở nghiên cứu; chưa xác lập liều điều trị trên người |
| Hạn chế teo cơ | Tế bào | Chưa đủ căn cứ chỉ định cho người yếu cơ |
| Chỉ số răng miệng | Một thử nghiệm ngắn hạn của chế phẩm súc miệng | Không gán cho đường uống hoặc công dụng xương khớp |
| Lông cầm máu | Kinh nghiệm dân gian, khác bộ phận | Không khuyến nghị đắp lông thô vào vết thương |
Trong các công trình đã xác minh cho bản này, chưa có thử nghiệm đối chứng đủ tin cậy để xác lập hiệu quả và liều của riêng cẩu tích khô đường uống trong điều trị loãng xương, thoái hóa khớp hoặc bệnh thận. Việc tổng hợp nghiên cứu không đồng nghĩa sản phẩm bán lẻ đã được kiểm chứng cho tất cả hướng đó.
Người có biểu hiện thận hư hữu nhiệt, nước tiểu vàng và các dấu hiệu không phù hợp với tính ôn của vị thuốc cần được thầy thuốc xem xét, không tự dùng. [2,5] Không dựa vào một dấu hiệu đơn lẻ như màu nước tiểu để tự chẩn đoán thể bệnh.
Một số tài liệu cổ có ghi dùng cẩu tích cho phụ nữ có thai đau lưng, nhưng không đủ để áp dụng thành liều dùng chung cho thai phụ hiện nay. Người mang thai, cho con bú hoặc cần dùng cho trẻ phải được đánh giá riêng.
Người suy gan, suy thận, bệnh tim mạch, rối loạn đông máu hoặc đang điều trị bệnh nặng cần báo đầy đủ đơn thuốc và dược liệu. “Bổ thận” trong YHCT không phải căn cứ kết luận an toàn ở người suy thận.
Dữ liệu về tần suất tác dụng bất lợi của thân rễ khô đường uống còn hạn chế. Nếu xuất hiện đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy, nổi ban hoặc ngứa sau dùng, cần ngừng và trao đổi với người có chuyên môn. Phù môi lưỡi hoặc khó thở cần cấp cứu.
Chưa có dữ liệu tương tác lâm sàng đủ để lập danh sách đầy đủ cho riêng cẩu tích. Người dùng thuốc chống đông, thuốc có khoảng điều trị hẹp hoặc nhiều thuốc cùng lúc cần được rà soát; không diễn giải việc thiếu dữ liệu thành bảo đảm không tương tác. Nguy cơ còn phụ thuộc các vị phối hợp trong cả bài.
Đau lưng kèm yếu chân mới xuất hiện, tê vùng yên ngựa, bí tiểu hoặc mất kiểm soát đại tiểu tiện cần đánh giá cấp cứu. Đau sau ngã, đau nhiều về đêm, sốt, sụt cân, tiểu máu hoặc khớp sưng nóng cũng cần tìm nguyên nhân sớm.
Không tự ngâm rượu nhiều vị, nhất là công thức có vị độc hoặc cần bào chế nghiêm ngặt. Dùng rượu không phải điều kiện để phát huy mọi công dụng của cẩu tích.
Giữ cẩu tích khô trong túi hoặc hộp kín, nơi khô thoáng, tránh ánh nắng, nền ẩm và nguồn nhiệt. Dùng dụng cụ khô, đóng kín sau mỗi lần lấy; có thể chia gói nhỏ khi mua lượng lớn.
Theo hướng dẫn bảo quản dược liệu khô sau khi mua, nên dùng sớm và hạn chế để hở ngoài không khí. Hạn dùng của lô căn cứ nhãn và điều kiện thực tế; không mặc định dược liệu còn hạn là vẫn tốt nếu đã ẩm mốc.
Loại bỏ phần hàng có mốc, mùi lạ hoặc hư hỏng. Phơi hay rang lại không bảo đảm loại bỏ độc tố nấm mốc; không dùng thao tác đó để tiếp tục sử dụng một lô đã hỏng.

Khi lựa chọn trong nhóm cây thuốc Nam và dược liệu, khách hàng nên nói rõ cần cẩu tích dùng theo đơn, dạng phiến hay đoạn và dạng chế được yêu cầu. Cần xác nhận đã loại lông, khối lượng, nguồn cung công bố, nhãn và ảnh hàng giao.
Búpxanh cung cấp hóa đơn theo giao dịch. Khách có yêu cầu hóa đơn hoặc chứng từ khác nên thông báo trước và nhận xác nhận về những tài liệu có thể cung cấp; không xem hóa đơn là chứng nhận thay cho mọi chỉ tiêu chất lượng.
Tham khảo hướng dẫn đặt mua cây thuốc Nam tại Búpxanh và chính sách bán hàng để xác nhận giao nhận, thanh toán và xử lý hàng không phù hợp. Kiểm tra tình trạng túi, khối lượng và cảm quan khi nhận trước khi sử dụng.
Đúng, đây là tên gọi quen thuộc của cây Cibotium barometz. Phần làm dược liệu uống là thân rễ đã loại lông, không phải toàn cây hoặc toàn bộ lớp lông vàng.
Đó là yêu cầu chuẩn bị đúng bộ phận dùng. Lông vàng có lịch sử sử dụng khác; không coi còn nhiều lông là dấu hiệu hàng sắc uống tốt hơn.
Không. Cần phân biệt đau cơ, chèn ép thần kinh, gãy lún đốt sống, bệnh tiết niệu và các nguyên nhân khác. Thể bệnh và toàn bộ đơn quyết định việc vị thuốc có phù hợp hay không.
Đã có nghiên cứu liên quan đến xương và sụn, chủ yếu trên tế bào và động vật. Chưa đủ căn cứ xác lập các hiệu quả nêu trên cho thân rễ khô uống ở người.
Tiểu nhiều có nhiều nguyên nhân. Cần xem lượng nước uống, thuốc đang dùng, đường huyết và bệnh tiết niệu; không tự chẩn đoán thận hư chỉ vì đi tiểu nhiều lần.
Đây là kinh nghiệm dân gian, không phải khuyến nghị dùng lông thô vào vết thương. Ưu tiên gạc sạch, ép trực tiếp và đến cơ sở y tế khi chảy máu nhiều, vết sâu hoặc không cầm.
Cần xác nhận theo lô đang cung cấp. Bài viết không mặc định trọng lượng hoặc dạng chế khi chưa có nhãn và thông tin hàng thực tế.
[1] Royal Botanic Gardens, Kew. Plants of the World Online: Cibotium barometz (L.) J.Sm. Tên chấp nhận, phân bố và phân loại trong hồ sơ được đối chiếu.
[2] Khoa Dược, Đại học Tôn Đức Thắng. Cẩu tích. Thông tin nhận biết, bộ phận dùng, chế biến, công năng và khoảng liều dẫn theo Dược điển Việt Nam.
[3] Bệnh viện Nguyễn Tri Phương. Cẩu tích – Cây lông cu li. Đối chiếu các bài phối hợp và ghi nhận truyền thống; các công thức trong bài được ghi đúng nguồn.
[4] Inhibitors of Osteoclast Formation from Rhizomes of Cibotium barometz. Journal of Natural Products. 2009;72:1673–1677. DOI: 10.1021/np9004097. PMID: 19739599.
[5] Đỗ Tất Lợi. Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, mục Cẩu tích; đối chiếu bản trình bày của VNRAS, cập nhật 20/11/2023, ghi trang 507–508 của bản được trình bày.
[6] Zhao X. và cộng sự. Anti-osteoporosis activity of Cibotium barometz extract on ovariectomy-induced bone loss in rats. Journal of Ethnopharmacology. 2011;137:1083–1088. DOI: 10.1016/j.jep.2011.07.017. PMID: 21782010.
[7] Two novel polysaccharides from rhizomes of Cibotium barometz promote bone formation via activating the BMP2/SMAD1 signaling pathway in MC3T3-E1 cells. Carbohydrate Polymers. 2020;231:115732. DOI: 10.1016/j.carbpol.2019.115732. PMID: 31888819.
[8] Cibotium barometz polysaccharides stimulate chondrocyte proliferation in vitro by promoting G1/S cell cycle transition. Molecular Medicine Reports. 2017;15:3027–3034. DOI: 10.3892/mmr.2017.6412. PMID: 28358416.
[9] Cibotii Rhizoma Extract Mitigates LPS-Induced Inflammatory Bone Loss by Inhibiting the RANK Signaling Pathway to Suppress Osteoclastogenesis and Bone Resorption. Advanced Biology. 2026. DOI: 10.1002/adbi.202500599. PMID: 42076885.
[10] Protective Role of Ethanol Extract of Cibotium barometz (Cibotium Rhizome) against Dexamethasone-Induced Muscle Atrophy in C2C12 Myotubes. International Journal of Molecular Sciences. 2023;24:14798. DOI: 10.3390/ijms241914798. PMID: 37834245.
[11] Biological activities and phytochemical content of the rhizome hairs of Cibotium barometz (Cibotiaceae). Industrial Crops and Products. 2020. Nghiên cứu bộ phận lông thân rễ.
[12] Kim Y.R., Nam S.H. Effect of Using Mouthwash Containing Cibotium barometz J. Smith on Cariogenic Bacteria and Acid-producing Ability of Saliva: A Randomised Blinded Clinical Trial. Oral Health & Preventive Dentistry. 2024;22:317–326. DOI: 10.3290/j.ohpd.b5574011. PMID: 39041359.
Để lựa chọn đúng cẩu tích, dạng chế và bài phối hợp theo thể trạng, nên tham vấn người có chuyên môn (bác sĩ YHCT/đông y).
Người gửi / điện thoại
ĐC: E67 Đường Phú Thuân , Phường Phú Thuận, Quận 7, Hồ Chí Minh
GPKD: 41G8026476 ngày 30/07/2015 - MST: 037085015723
Email:duoclieubupxanh@gmail.com
Website: https://trungtamduoclieu.vn