Giá: 150.000 VND
Đánh giá 54 lượt đánh giá
Cà gai leo khô tại Búpxanh là dược liệu được cắt đoạn, đóng túi 1kg, thuận tiện cân dùng và bảo quản. Sản phẩm phù hợp người tìm hiểu cách sử dụng cà gai leo trong chăm sóc sức khỏe gan theo hướng dẫn chuyên môn. Bài viết giới thiệu đặc điểm, công dụng, nghiên cứu, liều tham khảo và bài thuốc có nguồn, giúp lựa chọn đúng dược liệu.
Khuyến mãi mua 5kg cà gai leo tặng 1kg
Có bán rễ cây cà gai leo 250k/kg
Cà gai leo khô được nhiều người tìm mua khi quan tâm đến dược liệu chăm sóc gan. Cây đã có các nghiên cứu trong nước về thành phần hóa học, bảo vệ gan trên thực nghiệm và chế phẩm hỗ trợ điều trị viêm gan B.
Tại Búpxanh, cà gai leo được giới thiệu ở dạng dược liệu cắt nhỏ, phơi khô, đóng túi 1kg. Nội dung trang này tập trung vào thân lá khô; khách cần rễ có thể đặt riêng theo nhu cầu. Dạng cây khô thuận tiện để cân chia và sắc theo bài thuốc, đồng thời giúp người mua chủ động lượng nguyên liệu.
Mua sản phẩm tại Búpxanh, bạn đặt niềm tin đúng chỗ. Khách hàng có thể trao đổi về bộ phận, dạng sơ chế, khối lượng và cách sử dụng trước khi đặt mua.


| Nội dung | Thông tin trên trang sản phẩm |
|---|---|
| Tên sản phẩm | Cây cà gai leo khô |
| Dạng giới thiệu trong bài | Thân, cành mang lá khô, cắt đoạn |
| Quy cách | Túi 1kg |
| Mã sản phẩm | cclkbx |
| Giá niêm yết khi rà soát | 150.000 đồng/túi 1kg |
| Ưu đãi đang được giới thiệu | Mua 5kg tặng 1kg |
| Rễ bán riêng | Trang hiện giới thiệu mức 250.000 đồng/kg; xác nhận lại khi mua |
| Đơn vị cung cấp | Trung Tâm Dược Liệu Búpxanh |
Giá và chương trình ưu đãi có thể thay đổi. Khi chốt đơn, khách hàng nên xác nhận lại khối lượng, bộ phận, tình trạng sao chế và giá tương ứng.
Tên gọi “cà hoa tím” hoặc “cà gai” chưa đủ để xác định đúng cây. Nhiều loài họ Cà có gai, lông và hoa gần giống nhau; khi tra cứu công dụng hoặc mua hàng cần đối chiếu đúng tên loài.
Cà gai leo là cây bụi nhỏ, sống lâu năm, thân có thể bò hoặc dựa leo; gốc hóa gỗ và phân nhiều cành. Cành non có lông hình sao và gai cong. Lá mọc so le, phiến hình trứng đến thuôn, mép nguyên hoặc chia thùy nông; mặt dưới nhạt màu, có nhiều lông hơn mặt trên.
Hoa nhỏ, tràng hình sao, màu trắng đến tím nhạt, nhị vàng. Quả mọng nhỏ; màu sắc và hình thái cần được đối chiếu cùng các đặc điểm khác khi định danh. Không chọn cây chỉ dựa vào một bông hoa hoặc một chùm quả.
Dược liệu khô thường có đoạn thân, cành, lá và gai đặc trưng. Dạng cắt quá vụn hoặc dạng bột khó nhận biết bằng mắt hơn nguyên liệu còn giữ cấu trúc.
| Tiêu chí | Thân lá khô | Rễ khô |
|---|---|---|
| Bộ phận | Phần trên mặt đất, thường gồm thân, cành mang lá | Phần rễ |
| Nhận biết khi sơ chế | Đoạn cành, lá và gai; tỷ lệ từng phần tùy cách thu hái | Đoạn hoặc lát rễ, không có lá |
| Nhu cầu thường gặp | Sắc theo hướng dẫn hoặc dùng trong bài phối hợp | Bài thuốc ghi rõ dùng rễ |
| Cách chọn | Xem độ khô, tạp chất, tỷ lệ thân lá và dạng cắt | Xác định đúng rễ, độ sạch và trạng thái sơ chế |
Các bộ phận đều được tài liệu đề cập, nhưng không có cơ sở nói toàn bộ dược chất chỉ nằm trong rễ hoặc rễ luôn hiệu quả hơn thân lá. Nghiên cứu phải được đọc theo bộ phận, phương pháp chiết và dạng chế phẩm cụ thể.
Một số bài thuốc dân gian dùng rễ; các nghiên cứu khác dùng phần trên mặt đất hoặc cao chiết. Vì vậy, nếu bài ghi rễ, không tự đổi thành thân lá cùng khối lượng.
Cà gai leo phân bố tại Việt Nam và hiện được trồng ở nhiều vùng làm nguyên liệu dược. Nghiên cứu trồng trọt cho thấy giống, điều kiện canh tác và thời điểm thu hoạch ảnh hưởng đến năng suất, hàm lượng nhóm chất được khảo sát.
Thân lá sau thu hái được loại tạp, làm sạch, cắt đoạn và phơi hoặc sấy khô. Nguồn nguyên liệu trồng giúp chủ động sản lượng; tuy nhiên, chất lượng vẫn cần dựa vào quy trình chăm sóc, sơ chế và kiểm soát nguyên liệu, không chỉ dựa vào địa danh.
Tài liệu Khoa Dược Trường Đại học Tôn Đức Thắng nêu cách vi sao hoặc sao vàng trước khi dùng. Trong kinh nghiệm dân gian, bước sao còn giúp dược liệu thơm và dễ sử dụng hơn.
Người mua nên hỏi sản phẩm đã sao hay chưa sao để tránh làm lặp không cần thiết. Sao cần thao tác phù hợp, không đốt cháy đen dược liệu. “Hạ thổ” theo kinh nghiệm không có nghĩa đặt nguyên liệu trực tiếp lên nền đất; bề mặt và dụng cụ phải sạch.
Không có cơ sở cho rằng chỉ cần sao, phơi hoặc hạ thổ là loại được mọi độc chất, nấm mốc hay tồn dư trên nguyên liệu.
Nhóm được quan tâm trong cà gai leo là glycoalkaloid steroid. Một số hợp chất được ghi nhận gồm solasonin, solamargin; solasodin là phần aglycon liên quan và được dùng làm chất chỉ thị trong kiểm nghiệm.
Glycoalkaloid là tên một nhóm chất, không phải một hoạt chất duy nhất và không đồng nghĩa chất lượng của sản phẩm chỉ phụ thuộc vào một con số. Không tự gán hàm lượng nghiên cứu cho sản phẩm chưa được kiểm nghiệm tương ứng.
Công trình năm 2018 phân lập solaprocumoside A, B và paniculonin B từ phần trên mặt đất. Các nghiên cứu khác ghi nhận steroid, triterpenoid, phenolic và neolignan, trong đó có solacanin A.
Thành phần này là nền tảng cho nghiên cứu cơ chế và kiểm soát chất lượng. Sự hiện diện của một hợp chất không tự xác lập hiệu quả chữa bệnh của cả cây.
Tài liệu mô tả cà gai leo có vị hơi đắng, the, tính ôn; có ghi nhận tính độc của vị thuốc. Công năng thường được nhắc đến là phát tán phong thấp, tiêu độc, trừ ho, giảm đau và cầm máu.
Trong thực hành dân gian, rễ hoặc thân lá được dùng theo những bài riêng cho đau nhức, ho và một số tình trạng quanh răng. Những cách dùng này có bối cảnh lịch sử khác với hướng nghiên cứu gan hiện đại.
Đây là nhu cầu nổi bật của người mua hiện nay. Cà gai leo đã được nghiên cứu dưới nhiều dạng, từ dịch chiết trong thực nghiệm đến chế phẩm dùng cho bệnh nhân viêm gan B mạn.
Giá trị của dược liệu nằm ở cơ sở nghiên cứu này và vai trò hỗ trợ được khảo sát. Với người quan tâm đến gan, lựa chọn phù hợp còn phụ thuộc nguyên nhân bệnh, chỉ số xét nghiệm, tình trạng gan và kế hoạch điều trị đang thực hiện.
Một số bài thuốc dân gian phối hợp cà gai leo với thổ phục linh, kê huyết đằng, lá lốt hoặc rễ cỏ xước. Tài liệu còn giới thiệu các chế phẩm Solamin có thành phần cà gai leo.
Đây là hướng sử dụng truyền thống có thêm dữ liệu nghiên cứu về viêm và đau. Bài phối hợp có thành phần, liều riêng; không xem kết quả của chế phẩm nhiều vị là tác dụng độc lập của thân lá cà gai leo.
Cà gai leo có mặt trong bài phối hợp lá chanh cho ho theo kinh nghiệm dân gian. Một số nguồn cũng nhắc đến chế phẩm A.P.D. kết hợp các dược liệu cho vùng quanh răng.
Các ghi nhận này giúp hiểu phạm vi sử dụng của cây, nhưng cần phân biệt thuốc dùng tại chỗ, chế phẩm bào chế và nước sắc từ nguyên liệu khô.
Y văn có ghi lại cách dùng rễ khi say tửu. Đây là thông tin lịch sử về sử dụng dân gian, không chứng minh dược liệu làm giảm nồng độ cồn trong máu hoặc cho phép uống nhiều mà gan vẫn được bảo vệ.
Nguyễn Phúc Thái và cộng sự công bố trên Journal of Occupational Health nghiên cứu Solanum hainanense trong mô hình chuột tiếp xúc TNT. Nhóm dùng dịch cây có một số chỉ số men gan và mô học được cải thiện so với nhóm gây độc.
Đây là bằng chứng thực nghiệm về bảo vệ gan trong điều kiện nghiên cứu; mô hình TNT không đại diện cho mọi bệnh gan ở người.
Các tài liệu học thuật dẫn luận án năm 2002 của Nguyễn Thị Bích Thu về cà gai leo làm thuốc chống viêm gan và ức chế xơ gan. Hướng nghiên cứu bao gồm dịch chiết, nhóm glycoalkaloid, phản ứng viêm và quá trình xơ hóa trên thực nghiệm.
Thông tin này góp phần lý giải vì sao cà gai leo được chú ý trong phát triển chế phẩm hỗ trợ gan. Những tỷ lệ kết quả được trích lại trên mạng cần được kiểm tra từ báo cáo gốc trước khi sử dụng để quảng bá.
Viện Dược liệu công bố thông tin nghiên cứu cao nước của bài “Bàn tay ma” gồm bàn tay ma, giảo cổ lam và cà gai leo. Thử nghiệm trên chuột gây tổn thương gan bằng paracetamol ghi nhận tác động bảo vệ gan và lợi mật.
Kết quả thuộc cả bài phối hợp, không chứng minh riêng cà gai leo tạo ra toàn bộ tác dụng. Nguồn tóm tắt chưa đủ định lượng để chuyển thành một thang tự sắc tại nhà.
Luận án của Trịnh Thị Xuân Hòa năm 1999 được các tài liệu học thuật dẫn về nghiên cứu Haina ở bệnh nhân viêm gan B mạn hoạt động. Các bản tổng hợp mô tả nghiên cứu giai đoạn đầu trên 60 bệnh nhân; cần đọc cùng báo cáo gốc để đánh giá đầy đủ thiết kế và kết quả.
Nguồn trực tiếp trên website Bệnh viện Quân y 103 đăng tóm tắt bài báo của Trịnh Thị Xuân Hòa, Nguyễn Văn Mùi và cộng sự, xuất bản năm 2005. Tổng nghiên cứu gồm 240 người trong các nhánh Haina và Dihacharin. Riêng nhánh Haina có 90 bệnh nhân dùng chế phẩm và 90 bệnh nhân đối chứng.
Tóm tắt ghi nhận thay đổi một số dấu ấn HBV ở nhóm Haina so với đối chứng. Đây là nghiên cứu chế phẩm, không phải thử nghiệm uống thân lá khô của Búpxanh. Con số “90 bệnh nhân” thường được dẫn trên mạng cần hiểu là số ở nhóm dùng Haina trong nhánh so sánh này.
Tóm tắt OP-08-01 tại APDW 2024, đăng trong Journal of Gastroenterology and Hepatology, mô tả thử nghiệm ngẫu nhiên trên 150 bệnh nhân viêm gan B mạn HBeAg dương tính, chia ba nhóm: chế phẩm cà gai leo phối hợp tenofovir, tenofovir đơn thuần và chế phẩm cà gai leo.
Nhóm phối hợp được báo cáo có đáp ứng thuận lợi hơn ở ALT, HBV-DNA và một số dấu ấn HBeAg/anti-HBe. Đây là kết quả ở mức tóm tắt hội nghị; thông tin về chuẩn hóa chế phẩm, độ an toàn và phương pháp còn cần báo cáo đầy đủ để đánh giá.
Men gan giảm, HBV-DNA dưới ngưỡng phát hiện, mất HBeAg và mất HBsAg là những kết quả khác nhau. Không gọi chung mọi thay đổi xét nghiệm là “âm tính virus” hoặc “khỏi viêm gan B”.
Đối với trang bán dược liệu, cách diễn đạt phù hợp là cà gai leo có nghiên cứu về hỗ trợ sức khỏe gan và một số chế phẩm đã được khảo sát trong điều trị phối hợp. Kết quả nghiên cứu không được chuyển thành cam kết cho mọi sản phẩm, liều hoặc người dùng.
| Hướng nghiên cứu | Dữ liệu tiêu biểu | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| Thành phần và kiểm nghiệm | Saponin steroid năm 2018; nghiên cứu phân lập solasodin làm chất chuẩn | Hỗ trợ nhận diện và kiểm soát nguyên liệu |
| Viêm và đau | Nghiên cứu năm 2023 trên mô hình viêm khớp ở chuột | Dữ liệu tiền lâm sàng |
| Enzym chuyển hóa đường | Công bố năm 2021 về hợp chất và ức chế alpha-glucosidase; nghiên cứu solacanin A | Hoạt tính enzym, chưa xác lập điều trị đái tháo đường |
| Chống oxy hóa và công nghệ chiết | Nghiên cứu tối ưu chiết glycoalkaloid năm 2025 | Phục vụ phát triển quy trình chiết và khảo sát hoạt tính |
| Giống và thu hoạch | Nghiên cứu năm 2024 về sinh trưởng, năng suất và hàm lượng glycoalkaloid | Giúp xây dựng nguồn nguyên liệu |
| Vật liệu nano | Công bố dùng dịch cây trong tổng hợp nano kẽm oxit và thử trên tế bào | Kết quả thuộc vật liệu nano, không phải nước sắc cây |
Những hướng này cho thấy cây được nghiên cứu rộng hơn ứng dụng gan. Chưa đủ cơ sở để quảng bá thân lá khô có tác dụng điều trị gan nhiễm mỡ, đái tháo đường hoặc phòng ung bướu chỉ dựa vào kết quả tế bào, động vật hay enzym. Danh mục phản ánh các nguồn kiểm tra được, không bảo đảm bao quát mọi công bố.
Người có men gan cao, viêm gan hoặc xơ gan cần được đánh giá nguyên nhân và mức độ bệnh để chọn cách chăm sóc phù hợp; một tên bệnh không đủ quyết định bài thuốc.
Các tài liệu dược liệu thường nêu 16–20g/ngày dưới dạng thuốc sắc. Liều cụ thể còn phụ thuộc bộ phận, cách chế biến, bài phối hợp và chỉ dẫn cho từng người.
Các công thức lưu truyền có thể sử dụng lượng khác. Không lấy liều viên cao chiết đổi trực tiếp thành gam cây khô; không tự cộng nhiều bài trong cùng ngày.
Tỷ lệ nước và thời gian phụ thuộc bài thuốc, không có một cách nấu chứng minh tương đương mọi chế phẩm nghiên cứu. Nếu được hướng dẫn hãm, cần dùng dược liệu và dụng cụ phù hợp; không mặc định hãm nhanh cho hiệu suất giống sắc.
Giữ dược liệu trong túi/hộp kín, nơi khô thoáng, tránh nắng và nguồn ẩm. Đóng lại sau mỗi lần lấy. Nên mua lượng phù hợp và ưu tiên dùng hết gói đã mở trước; thời gian bảo quản thực tế theo nhãn và tình trạng sản phẩm.

Các công thức dưới đây được dẫn theo nguồn để người đọc tra cứu, phân biệt độc vị và phối hợp. Nguồn không ghi lượng nước, thời gian hoặc dạng nguyên liệu thì bài viết không tự bổ sung.
Thành phần: cà gai leo theo đúng bộ phận được hướng dẫn, lượng tham khảo thường ghi 16–20g/ngày.
Cách dùng: thuốc sắc.
Nguồn: tài liệu dược liệu và Khoa Dược Trường Đại học Tôn Đức Thắng. Đây là liều tham khảo, không phải lượng bảo đảm tác dụng gan cho mọi người.
Thành phần được Vinmec ghi nhận: cà gai leo 15g, lá chanh 30g.
Bộ phận: nguồn ghi rễ hoặc thân lá cà gai leo.
Cách dùng: sắc nước, chia hai lần trong ngày. Nguồn không thống nhất một lượng nước cho mọi trường hợp.
Một số tài liệu khác ghi rễ 10g; cần giữ đúng bài đang sử dụng, không tự coi các phiên bản là một liều duy nhất.
Thành phần theo Vinmec: cà gai leo, dây gắm, thổ phục linh, kê huyết đằng, lá lốt – mỗi vị 10g.
Cách dùng nguồn nêu: sắc nước uống. Nguồn không chỉ rõ bộ phận của cà gai leo trong công thức; cần làm rõ khi mua nguyên liệu.
Thành phần: rễ cà gai leo, rễ xấu hổ, thổ phục linh, rễ cỏ xước, kê huyết đằng, rễ cỏ tranh – mỗi vị 16g.
Cách dùng: sắc uống theo hướng dẫn.
Nguồn: Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, mục Vị thuốc Cà gai leo. Đây là bài dùng rễ; không tự đổi sang sản phẩm thân lá theo cùng lượng.
Thành phần được Pharmacity giới thiệu: cà gai leo 30g, diệp hạ châu 10g, xạ đen 10g.
Cách dùng: nguồn giới thiệu dạng sắc trong kinh nghiệm hỗ trợ gan. Chưa mô tả đầy đủ bộ phận, lượng nước hoặc thời gian.
Đây là bài trên nguồn phổ biến, không phải công thức đã được thử nghiệm tương đương Haina hay chế phẩm dùng trong APDW 2024.
Một số chế phẩm và nguồn tài liệu giới thiệu phối hợp với mật nhân; bài nghiên cứu “Bàn tay ma” có thêm giảo cổ lam và một vị khác. Tỷ lệ của cao chiết, thành phần chế phẩm và đơn vị liều cần được xác định riêng.
Không tự tạo một tỷ lệ thân lá cà gai leo, rễ mật nhân và giảo cổ lam rồi gọi là công thức đã được nghiên cứu. Có thể tìm hiểu rễ cây bá bệnh – mật nhân và giảo cổ lam như những sản phẩm riêng.


Một túi nguyên liệu phù hợp cần đáp ứng đúng nhu cầu về tên cây, bộ phận, dạng sơ chế và khối lượng. Khi đặt mua, khách có thể hỏi:
Dược liệu nên giữ được đặc điểm nhận biết, ít tạp, khô đều. Mùi thơm hoặc màu nước đậm chỉ là cảm quan, không chứng minh hàm lượng hoạt chất hay hiệu quả cao hơn.
Búpxanh chịu trách nhiệm hàng hóa theo thông tin và chứng từ bán hàng. Khách cần rễ riêng nên ghi rõ từ đầu để chọn đúng dạng, không đặt nhầm thân lá.
Ngoài các vị đã liên kết trong bài, khách có thể xem:
Danh sách phục vụ tìm hiểu và lựa chọn, không phải bài phối hợp tất cả các vị với cà gai leo.

Trang hiện giới thiệu túi 1kg, giá niêm yết 150.000 đồng và ưu đãi mua 5kg tặng 1kg. Khách xác nhận lại chương trình và dạng sản phẩm khi chốt đơn.
Chọn theo bài được hướng dẫn. Thân lá thuận tiện cho nhu cầu sắc dùng phần trên mặt đất; bài ghi rõ rễ cần đặt rễ riêng. Không có cơ sở khẳng định rễ luôn tốt hơn trong mọi mục đích.
Hỏi rõ dược liệu đã sao chưa. Nếu đã được sao chế phù hợp thì không cần mặc định sao lại; nếu chưa sao, làm theo hướng dẫn sơ chế và tránh cháy đen.
Có cách dùng hãm được lưu truyền, nhưng cần lượng và cách chuẩn bị phù hợp. Sắc thường được dùng trong bài thuốc; không coi nước hãm, cao chiết và viên nang là những dạng tương đương về liều.
Nếu lượng được hướng dẫn là 20g/ngày, 1kg tương ứng khoảng 50 phần; nếu 16g/ngày thì khoảng 62 phần. Đây là phép tính khối lượng để dự trù mua hàng, không phải khuyến nghị sử dụng liên tục trong thời gian đó.
Có bài phối hợp và chế phẩm được giới thiệu, nhưng thành phần, tỷ lệ và mục đích khác nhau. Nên sử dụng theo một bài rõ ràng thay vì tự thêm nhiều vị vào nước uống.
Đối chiếu mục tiêu đã được bác sĩ xác định và kết quả xét nghiệm đúng lịch. Cảm giác ăn ngon, đỡ mệt không phản ánh đầy đủ tải lượng virus hoặc mức độ xơ hóa; mỗi chỉ số có ý nghĩa riêng.
kiểm duyệt chuyên môn: Trần Văn Bằng – Y sĩ Y học cổ truyền.
Người gửi / điện thoại
nhà minh có giống cà gai leo bán giá cả hợp lý, đảm bảo về chất lượng
Trả lờicà gai có chữa hết viêm gan b hay ko
Trả lờicà gai leo làm giảm vi rút viêm gan b rất tốt xong không chữa hết viêm gan b. Bạn bị viêm gan b sử dụng xáo tam phân hoắc nấm lim xanh. sử dụng xáo tam phân khoảng 2 tháng nếu bệnh nhẹ, sử dụng nấm lim xanh khoảng 5 tháng
Trả lờiĐC: E67 Đường Phú Thuân , Phường Phú Thuận, Quận 7, Hồ Chí Minh
GPKD: 41G8026476 ngày 30/07/2015 - MST: 037085015723
Email:duoclieubupxanh@gmail.com
Website: https://trungtamduoclieu.vn