Giá: 150.000 VND
Đánh giá 13 lượt đánh giá
Cỏ mực khô Búpxanh, còn gọi nhọ nồi hoặc hạn liên thảo, là dược liệu từ cây Eclipta prostrata, đóng gói túi 1kg. Vị thuốc được dùng trong Đông y theo hướng lương huyết, chỉ huyết, bổ can thận. Sản phẩm phù hợp phối hợp theo hướng dẫn chuyên môn. Người có bệnh nền, đang dùng thuốc, thai phụ và trẻ nhỏ cần được hướng dẫn trước khi sử dụng.
Mua 5kg cây cỏ mực được tặng 1kg
Cỏ mực khô Búpxanh là dược liệu từ cây cỏ mực, còn gọi cỏ nhọ nồi, hạn liên thảo, đóng gói túi 1kg. Đây là vị thuốc quen thuộc trong Đông y với công năng lương huyết, chỉ huyết, bổ can thận, được sử dụng trong các phương liên quan huyết nhiệt, can thận âm hư và kinh nghiệm chăm sóc tóc.
Dạng khô thuận tiện cân lượng, bảo quản và phối hợp theo đơn. Trước khi mua, khách hàng nên xác định đúng tên vị, dạng dược liệu và nhu cầu dùng; không lấy liều cây tươi hoặc liều cao chiết áp nguyên cho hàng khô.

| Nội dung | Thông tin |
|---|---|
| Tên sản phẩm | Cỏ mực khô |
| Tên khác | Cỏ nhọ nồi, nhọ nồi, hạn liên thảo |
| Tên khoa học được chấp nhận | Eclipta prostrata (L.) L. |
| Tên đồng nghĩa thường gặp | Eclipta alba (L.) Hassk. |
| Họ thực vật | Cúc – Asteraceae |
| Tên dược liệu thường dùng | Herba Ecliptae |
| Dạng hàng | Dược liệu khô |
| Quy cách | Túi 1kg |
| Đơn vị cung cấp | Búpxanh |
| Mục đích sử dụng | Sắc theo hướng dẫn hoặc phối hợp trong phương phù hợp |
Bộ phận dùng được tài liệu Việt Nam ghi là toàn cây. Khi mua cần xem thành phần thực giao gồm thân, lá và các phần đi kèm; dạng cắt, tỷ lệ bộ phận và hạn dùng theo nhãn thực tế.

Trong phạm vi vị thuốc này, ba tên trên cùng chỉ Eclipta prostrata. Tên Eclipta alba thường xuất hiện trong sách và nghiên cứu cũ; Kew hiện xếp tên này là đồng nghĩa của Eclipta prostrata.
Tên “cỏ mực” gắn với hiện tượng phần cây tươi bị vò hoặc giã có thể chuyển sẫm màu. Tuy nhiên, đặc điểm đó chỉ hỗ trợ nhận biết, không đủ để xác nhận một túi dược liệu đã khô và vụn.
Cây có thân mang lông, lá mọc đối và cụm hoa nhỏ màu trắng. Dược liệu khô thường thấy thân có khía dọc, lá nhăn và phần hoa hoặc quả tùy thời điểm thu hái; màu có thể xám xanh, nâu hoặc sẫm ở từng bộ phận.
Khi nhận hàng, kiểm tra bao bì, tên sản phẩm, khối lượng và dấu hiệu ẩm mốc. Không chọn hàng chỉ vì màu xanh đậm hoặc nước sắc thật đen. Mùi lạ, phần ẩm, mốc và sâu mọt là những dấu hiệu cần ngừng sử dụng, xác nhận lại với bên bán.
Cỏ mực khô thông thường và cỏ mực đã sao hoặc chế biến theo đơn không mặc định là cùng một dạng hàng. Nếu đơn yêu cầu dạng sao, cần hỏi rõ cách chế và người thực hiện.
Không tự rang cháy thành tro rồi coi đó là cách tăng công dụng cầm máu. Cũng không tự nghiền hàng thô thành bột uống nếu chưa được hướng dẫn về chất lượng, vệ sinh và liều.
Các công trình về Eclipta prostrata ghi nhận nhóm coumestan như wedelolactone, demethylwedelolactone, cùng flavonoid, saponin triterpenoid và các nhóm chất khác. Thành phần phát hiện phụ thuộc bộ phận, dung môi và phương pháp nghiên cứu.
Đây là thông tin về loài, không phải công bố hàm lượng của túi hàng đang bán. Chưa có kết quả kiểm nghiệm tương ứng thì không gán tỷ lệ wedelolactone, mức chống oxy hóa hoặc số miligam hoạt chất cho một lần sắc.
Hoạt tính của chất tinh khiết cũng khác tác động của cả dược liệu. Một nghiên cứu sử dụng chiết xuất ethanol không thể chuyển thành hướng dẫn uống cùng số gram cỏ khô với nước.
Cỏ mực thường được mô tả vị ngọt, chua, tính lương, quy kinh can, thận. Công năng chính là lương huyết, chỉ huyết, bổ can thận.
Lương huyết được hiểu trong hệ lý luận Đông y là làm mát phần huyết; chỉ huyết là hướng sử dụng để cầm máu; bổ can thận liên quan các chứng hư được biện chứng cụ thể. Những thuật ngữ này không đồng nghĩa mọi bệnh gan hoặc bệnh thận đều phù hợp dùng cỏ mực.
Tài liệu cổ truyền ghi sử dụng trong chảy máu cam, rong huyết, tiểu ra máu, đại tiện ra máu và những chứng xuất huyết khác thuộc phạm vi phù hợp. Vị thuốc thường được phối hợp theo chứng, vị trí và nguyên nhân chảy máu.
Không nên hiểu “cầm máu” là cứ có máu chảy đều uống một loại cây. Nôn ra máu, ho ra máu, đi ngoài phân đen, tiểu máu hoặc chảy máu nhiều cần khám để xác định nguyên nhân; không chờ hết máu bằng một liệu trình tại nhà.
Cỏ mực được ghi trong các phương lương huyết, dưỡng âm và điều kinh, nhất là khi người kê xác định biểu hiện huyết nhiệt hoặc âm hư liên quan. Không tự thay bằng cây huyết dụ, vốn là vị thuốc riêng. Đây là lý do vị thuốc xuất hiện trong nhiều bài về sức khỏe phụ nữ.
Rong kinh có thể liên quan u xơ, rối loạn nội tiết, thai nghén hoặc bệnh khác. Người ra máu kéo dài, choáng, mệt nhiều cần được đánh giá và kiểm tra thiếu máu; không coi cỏ mực là thuốc điều kinh dùng chung mọi trường hợp.
Trong Đông y, hạn liên thảo thường được nhắc với hướng tư bổ can thận. Những phương liên quan có thể được lựa chọn cho người có chóng mặt, ù tai, lưng gối mỏi hoặc tóc bạc sớm theo thể can thận âm hư.
Đau lưng do căng cơ, thoát vị đĩa đệm hoặc bệnh tiết niệu cần cách đánh giá khác. Bổ thận trong Đông y cũng không đồng nghĩa phục hồi mức lọc cầu thận ở người suy thận.
Cỏ mực có lịch sử dùng chăm sóc tóc dưới dạng nước gội, dầu hoặc phối hợp dược liệu. Nghiên cứu hiện đại cũng quan tâm quá trình mọc tóc, nhưng dữ liệu chiết xuất trên động vật không bảo đảm tóc bạc sẽ đen lại ở người.
Nếu lựa chọn chăm sóc da đầu, tránh dùng trên vùng trầy loét; ngừng khi ngứa hoặc kích ứng. Khách hàng tìm các nguyên liệu gội đầu cần phân biệt công thức dùng ngoài với phương sắc uống.
Một số tài liệu Việt Nam ghi ứng dụng trong viêm gan mạn, viêm họng, mẩn ngứa hoặc các phối hợp tiêu viêm. Đây là thông tin sử dụng truyền thống và cần xét đúng phương.
“Thanh nhiệt” không phải một chỉ định để dùng kéo dài khi chưa biết nguyên nhân. Vàng da, sốt dai dẳng, sưng đau họng kèm khó thở hoặc tổn thương da lan rộng cần khám.
Saxena và cộng sự năm 1993 khảo sát chiết xuất Eclipta alba trên chuột gây tổn thương gan bằng carbon tetrachloride. Công trình ghi nhận tác động ở cấp dưới tế bào, liên quan các enzyme chuyển hóa thuốc tại gan.
Kết quả là cơ sở nghiên cứu dược lý. Mô hình gây độc gan trên động vật khác viêm gan virus, gan nhiễm mỡ hoặc xơ gan ở người; không từ đó đặt liệu trình cỏ khô điều trị những bệnh này.
Manvar và cộng sự công bố nghiên cứu về các chất từ Eclipta alba và hoạt tính chống HCV trong hệ thử nghiệm phòng thí nghiệm. Đây là hướng nghiên cứu cụ thể về cơ chế và chất có tiềm năng.
Nghiên cứu không phải thử nghiệm người bệnh dùng cỏ mực khô để đạt âm tính virus. Không suy sang khả năng chữa viêm gan B hoặc dùng nước sắc thay phác đồ kháng virus.
Các nghiên cứu công bố năm 2008, 2009 và những năm sau khảo sát chiết xuất Eclipta alba/Eclipta prostrata trên mô hình động vật và quá trình phát triển nang tóc.
Những kết quả này hỗ trợ việc tiếp tục nghiên cứu dạng bôi hoặc chế phẩm phù hợp. Chúng chưa xác lập mức tác dụng, tỷ lệ mọc lại tóc hoặc khả năng đảo ngược tóc bạc khi uống dược liệu thô.
Các công trình về cỏ mực còn khảo sát chống oxy hóa, viêm và tăng sinh tế bào. Khi đọc cần xem thí nghiệm dùng toàn cây, chiết xuất hay chất phân lập, và thử trên tế bào, động vật hay người.
Không dùng thuật ngữ “ức chế tế bào ung thư” để cam kết làm nhỏ u. Việc gọi một tác dụng là “hỗ trợ” vẫn cần dữ liệu phù hợp với tuyên bố và dạng sản phẩm.

Rangineni, Sharada và Saxena công bố năm 2007 nghiên cứu trên 60 nam giới 40–55 tuổi tăng huyết áp nhẹ. Người tham gia được chia nhóm giả dược và nhóm dùng bột lá Eclipta alba 3g/ngày, đóng viên, trong 60 ngày.
Báo cáo ghi nhận ở nhóm Eclipta giảm huyết áp động mạch trung bình, cải thiện một số chỉ số lipid và tăng lượng nước tiểu. Đây là nghiên cứu thăm dò, quy mô nhỏ, đối tượng hạn chế.
Dạng dùng là bột lá đóng viên, khác dược liệu gồm nhiều bộ phận đem sắc. Không lấy liều 3g/ngày làm liều cho túi cỏ mực khô, cũng không tự giảm thuốc huyết áp từ kết quả này.
Bản chuyên khảo Đỗ Tất Lợi được VNRAS đăng lại có nhắc theo dõi tại Bệnh viện Ninh Giang năm 1961: 3 người bệnh ra huyết, sử dụng 20g dược liệu khô/ngày, được ghi nhận giảm ra huyết sau 1–2 ngày và khỏi đợt ra huyết, ra viện sau 3–6 ngày.
Đây là ghi nhận lịch sử của nhóm rất nhỏ, không có nhóm đối chứng trong phần trích dẫn. Dù có phụ nữ mang thai trong báo cáo, dữ liệu này không xác lập an toàn thai kỳ hoặc là cơ sở hướng dẫn thai phụ tự cầm máu.
| Nhóm thông tin | Ý nghĩa khi lựa chọn sản phẩm |
|---|---|
| Công năng cổ truyền | Cơ sở biện chứng và phối ngũ |
| Bài thuốc được ghi nhận | Tham khảo công thức, cần người kê chọn đúng trường hợp |
| Thí nghiệm gan, tóc, virus | Tiềm năng nghiên cứu, chưa quy thành hiệu quả lâm sàng |
| Thử nghiệm bột lá trên người | Tín hiệu ban đầu, giới hạn ở dạng dùng và đối tượng nghiên cứu |
| Hàng khô Búpxanh | Không tự gán kết quả hoặc tỷ lệ đáp ứng của chế phẩm khác |
| Nguồn | Lượng dược liệu được ghi |
|---|---|
| Bệnh viện Y học cổ truyền TP.HCM | 12–20g/ngày, dạng sắc hoặc viên |
| Chuyên khảo Đỗ Tất Lợi, bản đăng lại | 6–12g/ngày, dạng sắc hoặc viên |
| Một số phương phối hợp | Có thể khác theo bài và chứng; không lấy làm liều chung |
Các mức liều phản ánh nguồn tài liệu, không phải yêu cầu tăng từ thấp lên cao. Người kê lựa chọn theo bệnh cảnh, dạng chế biến và những vị dùng cùng. Không lấy 30g trong một bài riêng làm liều mặc định cho tất cả khách hàng.
Cân đúng lượng, kiểm tra và tráng nhanh dược liệu nếu cần. Cho vào dụng cụ sắc phù hợp, thêm nước theo đơn hoặc hướng dẫn chuyên môn, sắc rồi gạn và chia lần đúng chỉ dẫn.
Không tự cô đặc đến một thể tích nhỏ để tăng tác dụng. Nếu trong thang có vị cần sắc trước, cho sau hoặc hòa tan riêng, thực hiện theo toàn bộ đơn, không chỉ cách dùng của riêng cỏ mực.
Nước sắc nên dùng trong ngày, bảo quản sạch. Thời gian sử dụng cần được đánh giá theo mục tiêu; không tự uống liên tục nhiều tháng vì thấy là cây quen thuộc.
Dạng tươi khác dạng khô về lượng nước và cách sử dụng. Không đổi cùng số gram; không lấy công thức vắt nước cây tươi làm hướng dẫn ngâm hàng khô rồi uống sống.
Các kinh nghiệm dùng ngoài bằng cây tươi cũng không đồng nghĩa hàng khô ngâm lại có cùng đặc điểm hoặc độ an toàn.
Các công thức dưới đây là tài liệu tham khảo, không phải đơn kê cho người đọc. Trước khi dùng cần xác nhận đúng chứng, đúng vị và dạng nguyên liệu; chảy máu đang diễn tiến cần được đánh giá trước.
Báo Sức khỏe & Đời sống ghi: cỏ nhọ nồi 12g, sinh địa 15g, thanh hao 10g, nguyên sâm 10g, bạch thược 10g, đan sâm 10g; sắc ngày một thang. Nguồn giới thiệu cho kinh đến trước kỳ thuộc huyết nhiệt.
Không dùng đơn này cho mọi dạng rong kinh hoặc ra máu trong thai kỳ. Cần người kê xác nhận đúng tên vị và dạng hàng trước phối.
Cùng nguồn ghi: cỏ nhọ nồi 10g, nữ trinh tử 10g, lư căn tươi 30g, ô mai 5 quả, mạch môn đông 10g, nam sa sâm 10g, ngọc trúc 10g; sắc ngày một thang.
Đây là phương được giới thiệu theo hướng tiêu khát, dưỡng âm. Người tiểu đường cần theo dõi đường huyết và điều trị đang dùng; không thay đơn thuốc hoặc áp dụng chỉ vì có khát nước.
Tài liệu bệnh viện ghi cỏ mực 30g, lá sen 15g, trắc bá diệp 10g, sắc chia ba lần trong ngày, trong phần phương liên quan chảy máu cam và thổ huyết.
Công thức có liều cỏ mực cao hơn khoảng tham khảo thông thường, không dùng làm chỉ dẫn tự xử trí nôn ra máu. Khách hàng được kê cần mua đúng trắc bách diệp theo đơn.
Bài viết của BS Đỗ Minh Hiền trên Sức khỏe & Đời sống ghi: đậu đen sao thơm 30g, cỏ mực 20g, trắc bá diệp 16g, thục địa 16g, chi tử 10g, hoa hòe sao 12g; sắc ngày một thang.
Đại tiện ra máu cần tìm nguyên nhân, không mặc định là trĩ. Người phân đen, choáng hoặc mệt nhiều không chờ dùng bài thuốc.
Cùng bài viết ghi: đậu đen sao thơm 30g; cỏ mực, thiên môn, thục địa mỗi vị 20g; hà thủ ô, đương quy, táo nhân sao đen, tang diệp mỗi vị 16g; đỗ trọng, cam thảo mỗi vị 10g; táo tàu 6 quả; sắc ngày một thang.
Phương nhiều vị cần được kiểm tra dạng chế, nhất là hà thủ ô; người có bệnh gan hoặc dùng thuốc không tự áp dụng dài ngày. Không có thời hạn bảo đảm tóc đen lại.
Nhị chí hoàn được ghi với nữ trinh tử và hạn liên thảo, thường theo tỷ lệ hai vị bằng nhau, theo hướng tư bổ can thận. Đây là cách phối hợp tiêu biểu để hiểu vai trò của hạn liên thảo trong nhóm dưỡng âm.
Liều chế phẩm hoàn phụ thuộc cách bào chế; không lấy khối lượng hoàn làm lượng tương đương hai vị thô để tự sắc.
Phối hợp này được lưu truyền rộng, nhưng “bổ thận” theo Đông y không đồng nghĩa đảo ngược suy thận mạn. Công thức cỏ mực, đậu đen không đủ cơ sở để cam kết phục hồi chức năng lọc hoặc giúp người bệnh ngừng chạy thận.
Người suy thận cần theo dõi dịch, kali, huyết áp và thuốc. Không tự uống nhiều lít nước sắc mỗi ngày. Việc hai nguyên liệu không có ghi nhận kiêng kỵ truyền thống không bảo đảm mọi liều, mọi người dùng đều an toàn.
Người cần cỏ mực khô trong đơn phù hợp, hoặc muốn mua đúng dược liệu cho cơ sở sử dụng có yêu cầu rõ, có thể lựa chọn sản phẩm. Người dùng cho huyết nhiệt, can thận âm hư hoặc chăm sóc tóc cần xác định mục tiêu và cách dùng trước.
Nếu cần phân biệt nhóm lương huyết với các vị khác, bạch mao căn khô cũng có công năng riêng và không tự thay cỏ mực cùng số gram. Mỗi đơn phối hợp cần xét cả bài.
Nôn máu, đi ngoài phân đen, chảy máu nhiều, ngất, khó thở hoặc ra máu khi mang thai cần được xử trí y tế kịp thời. Ngừng dùng nếu có phát ban, đau bụng, tiêu chảy hoặc phản ứng bất thường.
Không nhai cây rồi đắp vào vết hở hoặc rắc bột thô lên tổn thương vì nguy cơ nhiễm bẩn. Không dùng mật ong pha nước cây để rơ miệng trẻ dưới 12 tháng; tưa miệng ở trẻ cần chăm sóc đúng nguyên nhân.
Để túi ở nơi khô thoáng, tránh nắng, hơi nước và nguồn ẩm; đóng kín sau mở. Cân lấy bằng dụng cụ khô sạch, không cho phần thừa đã ướt trở lại túi.
Hạn dùng theo nhãn, không tự cộng thêm từ ngày mua. Loại bỏ dược liệu mốc, mọt hoặc mùi bất thường; phơi lại, rửa hoặc nấu sôi không phải cách phục hồi hàng đã hỏng.

Búpxanh cung cấp cỏ mực khô túi 1kg. Khách hàng đặt đúng tên “cỏ mực – nhọ nồi – hạn liên thảo”, xác nhận dạng giao, số lượng và nhu cầu hóa đơn. Nếu mua theo đơn, đối chiếu yêu cầu về dạng chế biến trước.
Búpxanh có tư cách pháp nhân chịu trách nhiệm về nguồn dược liệu, xuất xứ và có hóa đơn đầu vào, đầu ra hợp pháp. Giao nhận, phí vận chuyển, ưu đãi và đổi trả theo thông tin được xác nhận cho đơn hàng.
Để sử dụng cho tình trạng sức khỏe cụ thể, nên tham vấn người có chuyên môn (bác sĩ YHCT/đông y).
Có, trong phạm vi vị thuốc này cùng chỉ Eclipta prostrata; Eclipta alba là tên đồng nghĩa thường gặp.
Bài này giới thiệu hàng khô túi 1kg. Không mô tả hàng tươi hoặc cao chiết như lựa chọn sẵn có khi chưa xác nhận.
Chỉ huyết là công năng cổ truyền được ghi nhận. Cần chọn đúng chứng và nguyên nhân; triệu chứng chảy máu đáng kể không nên tự xử trí bằng dược liệu.
Có kinh nghiệm dưỡng tóc và dữ liệu tiền lâm sàng về mọc tóc. Chưa đủ để bảo đảm tóc bạc đen lại ở mọi người; cần xét di truyền, dinh dưỡng và nguyên nhân rụng tóc.
Không nên tự uống kéo dài hoặc tăng lượng. Dùng theo liều, thời gian và mục tiêu đã được hướng dẫn, nhất là người cần hạn chế dịch.
Không có dữ liệu được xác minh trong bài để công bố tỷ lệ khỏi hoặc mức tăng tiểu cầu. Người nghi sốt xuất huyết cần được theo dõi đúng bệnh, không chờ một bài thuốc cầm máu.
Hai trang hiện cùng giới thiệu cỏ mực khô túi 1kg. Tên trang khác nhau không tạo thành hai loại dược liệu; khách hàng kiểm tra dạng hàng và mã đơn khi mua.
Kiểm duyệt chuyên môn: Trần Văn Bằng – Y sĩ Y học cổ truyền.
Người gửi / điện thoại
Xin chao, Cho toi hoi tham cay co muc kho co the dem qua nuoc My duoc khong? Cong ty co ban duoi dang nuoc khong? Cac con toi bi toc bac qua som o tuoi 12 vi gen di tryuen ben noi, cong ty co loai thuoc nao co the giup khong? Cam on nhieu
Trả lờiĐC: E67 Đường Phú Thuân , Phường Phú Thuận, Quận 7, Hồ Chí Minh
GPKD: 41G8026476 ngày 30/07/2015 - MST: 037085015723
Email:duoclieubupxanh@gmail.com
Website: https://trungtamduoclieu.vn