Giá: 180.000 VND
Đánh giá 12 lượt đánh giá
Cây hoàn ngọc khô Búpxanh, còn gọi xuân hoa hoặc hoàn ngọc trắng, được đóng gói túi 1kg. Dược liệu được ghi nhận trong kinh nghiệm chăm sóc tiêu hóa và các nghiên cứu tiền lâm sàng. Khách hàng cần xác nhận bộ phận sử dụng, dùng theo hướng dẫn chuyên môn. Thai phụ, trẻ nhỏ, người có bệnh nền hoặc đang dùng thuốc cần được tư vấn trước dùng.
Cây hoàn ngọc khô Búpxanh, còn gọi xuân hoa, hoàn ngọc trắng hoặc cây con khỉ, là dược liệu dùng trong kinh nghiệm chăm sóc tiêu hóa và các phương phối hợp có hướng dẫn. Sản phẩm được giới thiệu dưới dạng khô, túi 1kg, thuận tiện cân lượng và bảo quản.
Khi lựa chọn, cần xác nhận đúng cây, bộ phận thực giao và dạng sơ chế. Hoàn ngọc khô không đồng nhất với lá tươi, rễ riêng hoặc cao chiết chuẩn hóa; những cách dùng tính bằng số lá tươi không áp nguyên cho một túi nguyên liệu khô.

| Nội dung | Thông tin |
|---|---|
| Tên sản phẩm | Cây hoàn ngọc khô |
| Tên gọi thường gặp | Xuân hoa, hoàn ngọc trắng, cây con khỉ, tu lình |
| Tên thường dùng trong nghiên cứu | Pseuderanthemum palatiferum (Nees) Radlk. |
| Tên được Kew chấp nhận hiện nay | Pseuderanthemum latifolium (Vahl) B.Hansen |
| Họ thực vật | Ô rô – Acanthaceae |
| Dạng hàng | Dược liệu khô |
| Quy cách | Túi 1kg |
| Mã sản phẩm trên trang | chnbx |
| Đơn vị cung cấp | Búpxanh |
| Bộ phận trong gói | Xác nhận theo nhãn: lá, thân lá hoặc bộ phận được đặt mua |
| Cách sử dụng | Sắc hoặc phối hợp theo hướng dẫn phù hợp |
Nội dung này giới thiệu hàng khô. Khách cần lá riêng, thân lá hoặc rễ nên xác nhận trước khi đặt; không mặc định mọi túi “cây hoàn ngọc” có cùng tỷ lệ bộ phận.
Hoàn ngọc được nhắc nhiều trong tài liệu Việt Nam dưới tên Pseuderanthemum palatiferum. Theo Plants of the World Online của Kew, tên này hiện là đồng nghĩa của Pseuderanthemum latifolium. Vì vậy, cần giữ cả tên quen thuộc trong nghiên cứu và danh pháp được cập nhật để người đọc tra cứu đúng.
Tên “cây con khỉ” là tên gọi dân gian của hoàn ngọc trong một số nguồn. Không nhầm với xương khỉ, tên thường dùng cho cây bìm bịp. Hai dược liệu không tự thay thế cho nhau dù có tên gần giống.
Các tên địa phương có thể dùng cho nhiều cây. Những tên như “mặt quỷ” không nên dùng độc lập để xác nhận hoàn ngọc vì dễ nhầm với dược liệu khác.
Ngoài thị trường, tên hoàn ngọc có thể gắn thêm “trắng”, “đỏ”, “âm” hoặc “dương”. Những cách gọi này không đủ chứng minh các cây đều cùng loài hoặc có thể dùng cùng đơn.
Bài này đề cập cây thường gọi hoàn ngọc trắng, xuân hoa, tương ứng nhóm tài liệu về P. palatiferum. Không dùng các kết quả nghiên cứu của cây này để gán cho cây lá đỏ chỉ dựa vào tên dân gian.
Cây tươi có dạng bụi, phần thân già hóa gỗ; lá mọc đối, phiến thuôn, mép nguyên, đầu nhọn. Hoa được mô tả màu trắng pha tím. Lá non có chất nhớt khi vò hoặc nhai là một dấu hiệu thường được nhắc, nhưng không phải phép thử định danh đầy đủ.
Khi làm khô, lá co nhăn, màu và độ mềm thay đổi; đoạn thân có thể cứng hơn lá. Hàng đã vụn khó nhận diện chỉ từ ảnh nên cần đối chiếu tên, dạng hàng và bên cung cấp.
Khi nhận sản phẩm, kiểm tra bao bì, khối lượng và hạn dùng. Không sử dụng nguyên liệu có mùi mốc, mùi chua, phần ẩm, mọt hoặc tạp chất bất thường. Màu xanh đẹp không tự chứng minh hàm lượng hoạt chất cao.
Lựa bỏ phần hỏng, kiểm tra và tráng nhanh nếu hướng dẫn yêu cầu. Không ngâm rửa lâu tùy ý, không cho nguyên liệu đã ướt trở lại túi hàng khô.
Bài không gán một quy trình phơi sấy hoặc nhiệt độ cố định cho lô hàng khi chưa có thông tin thực tế. Khi dùng theo đơn, cần xác nhận người kê yêu cầu lá hay thân lá, vì nghiên cứu trên một bộ phận không đại diện mọi phần của cây.

Các nghiên cứu về lá hoàn ngọc khảo sát thành phần phenolic, flavonoid và sterol. Stigmasterol, sitosterol glycoside và những nhóm chất khác được nhắc trong các công trình phân lập hoặc đánh giá hoạt tính.
Mỗi phương pháp chiết sẽ thu thành phần khác nhau. Dịch chiết ethanol 80%, chiết nước và lá khô đem sắc không phải cùng một chế phẩm. Không công bố phần trăm hoạt chất hoặc lượng chất chống oxy hóa cho hàng bán khi chưa có kiểm nghiệm.
Công trình của Mai và cộng sự năm 2011 trên Planta Medica nghiên cứu thành phần từ rễ, có phân lập lignan mới palatiferin A và palatiferin B.
Điểm cần chú ý là bộ phận nghiên cứu. Không lấy kết quả từ rễ để khẳng định túi lá hoặc thân lá chứa cùng hàm lượng, cũng không coi một bài phân lập hóa học là thử nghiệm chứng minh điều trị ung thư ở người.
Hoàn ngọc được sử dụng dân gian cho đau bụng, tiêu chảy và khó chịu đường tiêu hóa. Đây là nhóm ứng dụng được ghi nhận trong khảo sát dân tộc thực vật và nhiều bài viết dược liệu Việt Nam.
Khi sử dụng cần xác định nguyên nhân. Tiêu chảy do nhiễm trùng, tác dụng thuốc, bệnh viêm ruột hoặc rối loạn chức năng không có cùng cách xử trí. Sốt, phân máu, mất nước hoặc đau bụng tăng cần được khám.
Kinh nghiệm dùng hoàn ngọc cho đau dạ dày, viêm loét tiêu hóa là một hướng đã thúc đẩy nghiên cứu. Thử nghiệm trên động vật cũng gợi ý tác động bảo vệ lớp nhầy dạ dày, được trình bày riêng bên dưới.
Trong thực hành, đau thượng vị có thể cần kiểm tra Helicobacter pylori, thuốc đang dùng và các nguyên nhân khác. Không suy từ kinh nghiệm dân gian thành khả năng diệt H. pylori hoặc điều trị mọi loại loét.
Có tài liệu ghi dùng thân lá hoàn ngọc khô phối khổ sâm trong kinh nghiệm viêm đại tràng. Công thức cần được đọc đúng tên vị, lượng và dạng nguyên liệu.
“Khổ sâm” có thể chỉ những dược liệu khác nhau. Khổ sâm cho lá và khổ sâm cho rễ không thể đổi qua lại chỉ vì cùng tên; người kê phải xác nhận vị cụ thể trước khi phối.
Một số nguồn nhắc kinh nghiệm dùng hoàn ngọc cho trĩ ra máu, chảy máu và sưng sau chấn thương. Đây là ghi nhận sử dụng, không có nghĩa cây phù hợp tự xử trí xuất huyết tiêu hóa hoặc vết thương sâu.
Nôn máu, đi ngoài phân đen, ra máu nhiều hoặc choáng cần được đánh giá ngay. Với vết hở, không đắp lá hoặc bột thô không vô khuẩn vì có thể làm nhiễm bẩn tổn thương.
Tài liệu dân gian còn nhắc bệnh gan, viêm thận, tiểu khó, đau nhức và sốt. Những phạm vi này có trong thông tin sử dụng truyền lại, nhưng chưa tạo thành một chỉ định chung cho sản phẩm khô.
Gan nhiễm mỡ, viêm gan virus, xơ gan hoặc bệnh thận cần xác định riêng. Không dùng việc nhiều website lặp lại cùng một công thức làm bằng chứng đã chữa khỏi bệnh.
Một số nguồn Việt Nam mô tả vị đắng, ngọt và lá có nhớt. Trong phạm vi tài liệu kiểm tra cho bài này, chưa xác minh được một chuyên luận đủ rõ để chuẩn hóa quy kinh và hệ công năng như các vị thuốc cổ điển phổ biến.
Vì vậy, nội dung chủ yếu trình bày kinh nghiệm thuốc Nam và nghiên cứu hiện đại, không tự gán hoàn ngọc vào một cổ phương hoặc điền thêm tính vị, quy kinh cho đủ bảng.

Inchab và cộng sự khảo sát cao nước trên ba mô hình gây loét dạ dày ở chuột: ethanol/acid, stress và indomethacin. Cao nghiên cứu làm giảm hình thành tổn thương loét và góp phần bảo tồn chất nhầy dạ dày.
Đáng chú ý, trong mô hình thắt môn vị, cao không cho thấy tác dụng giảm tiết acid như một thuốc ức chế tiết. Điều này giúp mô tả đúng cơ chế được khảo sát thay vì gọi hoàn ngọc là “thuốc giảm acid tự nhiên”.
Nghiên cứu là tiền lâm sàng, dùng cao định lượng. Không chuyển liều mg/kg ở chuột thành gram dược liệu khô hoặc cam kết làm lành loét ở người.
Padee và cộng sự năm 2010 nghiên cứu chiết xuất ethanol 80% từ lá trên chuột bình thường và chuột gây đái tháo đường bằng streptozotocin. Kết quả gợi ý tác dụng hạ glucose trong điều kiện nghiên cứu.
Các công trình tiếp theo còn khảo sát một số chất phân lập và enzyme tiêu hóa carbohydrate. Đây là hướng tìm hiểu cơ chế; chưa xác định liều nước sắc phù hợp hoặc mức cải thiện HbA1c ở người dùng hàng khô.
Khonsung và cộng sự đánh giá cao nước từ lá tươi trên các mô hình chuột và mô cô lập. Nghiên cứu có sử dụng đường tiêm tĩnh mạch, ghi nhận tác động hạ huyết áp và giảm nhịp tim ở mô hình khảo sát.
Đường dùng và dạng cao rất khác sắc uống. Không từ đó hướng dẫn nhai một số lá để xử trí cơn tăng huyết áp hoặc cho rằng nước cây tự ổn định cả huyết áp cao lẫn thấp.
Dunkhunthod và cộng sự năm 2021 khảo sát phân đoạn nước của chiết xuất ethanol trên tế bào Jurkat. Công trình ghi nhận các biểu hiện chết tế bào theo chương trình và thay đổi thành phần sinh học trong điều kiện phòng thí nghiệm.
Jurkat là dòng tế bào, không phải nhóm người bệnh được uống hoàn ngọc. Kết quả này không xác lập khả năng giảm khối u, giảm đau ung thư hoặc tăng thời gian sống bằng dược liệu khô.
Tài liệu nghiên cứu còn quan tâm hoạt tính chống oxy hóa, kháng vi sinh vật và một số enzyme. Khi trích dẫn cần xác định đúng dịch chiết, điều kiện thử và mẫu nghiên cứu.
Không ghi “kháng sinh tự nhiên” như một chỉ định điều trị nhiễm khuẩn. Một nồng độ ức chế trong đĩa nuôi cấy không cho biết uống bao nhiêu nước sắc sẽ đạt hiệu quả an toàn trong cơ thể.

Dieu, Loc, Yamasaki và Hirata công bố năm 2005 khảo sát việc trồng và sử dụng cây tại 12.829 hộ gia đình ở Cần Thơ. Công trình ghi nhận cách sử dụng cho người và vật nuôi, đồng thời nghiên cứu đặc điểm thực vật.
Đây là khảo sát dân tộc thực vật, không phải 12.829 người bệnh được điều trị hoặc một thử nghiệm chứng minh tỷ lệ khỏi. Số hộ được khảo sát không thể đưa vào quảng cáo thành số ca đáp ứng thuốc.
Trong phạm vi nguồn đã kiểm tra cho bản biên tập này, chưa xác định được thử nghiệm lâm sàng đối chứng đủ tin cậy để chốt hiệu quả và liều cho hoàn ngọc khô đang bán trong viêm đại tràng, đái tháo đường, tăng huyết áp hoặc ung thư.
Các chế phẩm nghiên cứu riêng, nếu có, cũng cần đánh giá đúng thành phần và quy trình. Không tự áp công dụng của một sản phẩm thương mại lên mọi nguyên liệu mang tên hoàn ngọc.
| Dữ liệu | Phạm vi diễn giải |
|---|---|
| Kinh nghiệm dân gian | Có lịch sử sử dụng, cần chọn đúng trường hợp |
| Khảo sát hộ gia đình | Cho biết cách sử dụng, không xác lập tỷ lệ điều trị thành công |
| Cao chiết trên chuột | Gợi ý dược lý và cơ chế |
| Phân đoạn trên tế bào | Tín hiệu cho nghiên cứu tiếp theo |
| Dược liệu khô Búpxanh | Cần dùng theo hướng dẫn; không gán hiệu quả của chế phẩm khác |
Một bài tổng hợp của Long Châu tháng 9/2026 ghi 10–20g dược liệu khô/ngày. Đây là mức từ nguồn thông tin thứ cấp, chưa được xác minh thành liều chuẩn trong chuyên luận dược điển cho đúng bộ phận hàng bán.
Bài cũ trên website cũng nhắc 10g lá khô trong một kinh nghiệm riêng. Không biến những con số này thành chỉ định tự uống dài ngày, đặc biệt khi gói thực giao là thân lá thay vì lá riêng.
Liều thực dùng cần được xác nhận theo bộ phận, dạng chế biến, mục đích và tình trạng người sử dụng. Không lấy liều cao chiết trên động vật đổi thành lượng cây khô, không tự chọn mức cao nhất trong các nguồn.
Cân lượng được kê, kiểm tra và tráng nhanh nếu cần. Dùng nước sạch, dụng cụ sắc phù hợp, thêm nước và sắc theo toàn bộ đơn. Gạn, chia lần đúng chỉ dẫn; không tự cô đặc hoặc tăng nhiều lần lượng dược liệu.
Nước đã sắc nên dùng trong ngày, giữ sạch và tránh để lâu ở nhiệt độ phòng. Nếu đơn có nhiều vị, cách sắc có thể khác dùng đơn vị; cần theo người hướng dẫn.
Không nên mặc định hoàn ngọc khô là đồ uống tùy lượng. Hãm nhanh, sắc và dùng bột có cách chiết khác nhau; mức dùng lâu dài ở người chưa được xác lập đầy đủ.
Nếu lựa chọn sử dụng, cần có mục tiêu, lượng và thời gian đánh giá. Người đang dùng thuốc huyết áp hoặc đường huyết càng không nên tự uống đậm đặc mỗi ngày.
Hoàn ngọc có cả cách dùng đơn vị và phối hợp. Phần dưới ghi rõ nguyên liệu, định lượng và cách làm mà nguồn mô tả; đây là thông tin tham khảo, không phải đơn điều trị cá nhân. Các cách dùng lá tươi được giữ để người đọc hiểu kinh nghiệm dân gian, không quy đổi thành liều của sản phẩm khô.
Nguyên liệu được ghi: Thân và lá hoàn ngọc khô 40g, khổ sâm 10g, nước 800ml.
Cách chế biến trong tài liệu: Sắc hai vị với lượng nước trên, gạn và chia uống trong ngày. Nguồn không ghi rõ thời gian đun, lượng nước còn lại hoặc số ngày dùng; không tự bổ sung thành một liệu trình cố định.
Phạm vi ghi nhận: Công thức được Vinmec, Hoàn Mỹ và một số bài báo phổ biến trong phần kinh nghiệm về viêm đại tràng. Đó là công thức có thân lá khô, khác những cách nhai lá tươi thường được đăng cùng bài.
Điểm cần chốt trước khi dùng: Tên “khổ sâm” chưa xác định đầy đủ loài và bộ phận. Khổ sâm cho lá và khổ sâm cho rễ là những dược liệu khác nhau. Mức 40g hoàn ngọc cũng cao hơn khoảng tham khảo 10–20g đã nêu, nên cần người kê xác nhận đúng vị và lượng; không chọn làm liều khởi đầu chung cho mọi người đau bụng.
Nguyên liệu được ghi: Bột lá hoàn ngọc khô và bột tam thất, tỷ lệ 1:1.
Dạng dùng trong nguồn: Trộn hai bột, dùng với nước trước bữa ăn; lượng được mô tả là một thìa cà phê/lần. Bản ghi chưa làm rõ khối lượng gram của thìa, số lần dùng đầy đủ và dạng chế tam thất.
Ý nghĩa của tỷ lệ: Nếu cân hai bột cùng đơn vị khối lượng, 1:1 nghĩa là hai phần bằng nhau. Tỷ lệ này chỉ mô tả phối hợp, không xác định liều uống. Không lấy một thìa bột thực tế làm chuẩn vì độ mịn và cách đong khác nhau.
Phạm vi áp dụng: Đây là kinh nghiệm được nguồn thứ cấp nhắc trong nội dung bệnh gan, chưa phải công thức đã xác lập hiệu quả cho viêm gan virus hoặc xơ gan cổ trướng. Người bệnh gan, đang chảy máu hoặc dùng thuốc chống đông cần được xem xét trước; không tự pha một lượng lớn để uống kéo dài.
Nguyên liệu được ghi: 7–9 lá tươi/lần.
Cách dùng được mô tả: Rửa sạch, nhai kỹ; một số nguồn ghi 2–3 lần/ngày trong 5–7 ngày. Có nguồn khác ghi tráng lá qua nước sôi rồi dùng với tần suất khác. Những mô tả này là các bản kinh nghiệm riêng, không cộng dồn số lần thành một cách dùng mới.
Điểm cần phân biệt: Số lá không phản ánh khối lượng ổn định vì kích thước lá thay đổi. Không có tỷ lệ quy đổi đã xác minh từ 7–9 lá sang một số gram hàng khô.
Khi cân nhắc sử dụng: Đau bụng nhẹ cần được phân biệt với nhiễm trùng, tác dụng thuốc hoặc bệnh lý khác. Không áp dụng ăn lá sống cho trẻ nhỏ, người suy giảm miễn dịch hoặc tiêu chảy kèm sốt, phân máu, mất nước. Hàng khô cần dùng theo hướng dẫn riêng, không ngâm mềm rồi nhai thay lá tươi.
Lượng trong nguồn: Khoảng 7 lá tươi/lần, hai lần/ngày, có bài ghi thời gian 7 ngày. Pharmacity cũng nêu một bản kinh nghiệm dùng 10 lá tươi, cho thấy các cách ghi chưa thống nhất.
Cách được lưu truyền: Dùng lá đã làm sạch, nhai hoặc ăn kèm thức ăn. Đây là mô tả cách dùng dân gian, không phải bằng chứng lá sống có ưu thế hơn nước sắc hoặc điều trị được H. pylori.
Cách hiểu khi mua hàng khô: Không dùng con số này làm hướng dẫn cân túi dược liệu. Người đau thượng vị tái diễn cần xác định nguyên nhân và thuốc đang dùng; nôn máu, phân đen hoặc sút cân cần khám ngay.
Nguyên liệu được ghi: Hoàn ngọc tươi 7–10 lá; lá mơ lông dùng trong bữa ăn nhưng nguồn không nêu số gram.
Cách dùng được mô tả: Nhai lá hoàn ngọc hoặc giã lấy nước, kết hợp ăn lá mơ lông. Bài báo năm 2022 có ghi thời gian 1–2 tháng, nhưng không kèm thiết kế theo dõi, tiêu chuẩn đáp ứng hoặc dữ liệu an toàn cho liệu trình đó.
Giới hạn công thức: Đây là kinh nghiệm phối hợp thức ăn và lá thuốc, chưa phải đơn có định lượng đầy đủ. Không tự quy đổi sang hai dược liệu khô hoặc xem việc dùng đủ tháng là bảo đảm hiệu quả. Đặc biệt cần đánh giá lại khi đau bụng kéo dài, thay đổi đại tiện hoặc xuất hiện máu trong phân.
Dạng nguyên liệu: Lá tươi; các nguồn không có mức gram thống nhất theo diện tích tổn thương.
Cách được ghi: Làm sạch rồi giã, có bản thêm ít muối và dùng ngoài. Đây là kinh nghiệm tại chỗ, không phải cách sử dụng sản phẩm khô uống trong.
Lựa chọn an toàn: Không đắp hỗn hợp không vô khuẩn lên vết hở, vùng có mủ hoặc mắt. Sưng bầm nhiều, đau tăng, mất cảm giác hay hạn chế vận động cần kiểm tra tổn thương; không coi đắp lá là cách làm liền xương hoặc dẫn lưu ổ mủ.
| Nhóm kinh nghiệm | Thông tin nguồn đang có | Cách xử lý trong bài sản phẩm |
|---|---|---|
| Tiểu rắt, tiểu máu, viêm tiết niệu | Có mô tả giã lá tươi, vắt dịch; định lượng giữa các bản khác nhau | Không chuyển thành liều khô; tiểu máu, sốt hoặc đau hông lưng cần khám |
| Lá và rễ dùng cho huyết áp | Có nguồn nhắc rễ cây trên 7 năm, nhưng thiếu lượng gram và tỷ lệ | Chưa đủ để hướng dẫn sắc; không nhai lá xử trí cơn tăng huyết áp |
| U xơ, u nang, bệnh tiền liệt tuyến | Chủ yếu bản truyền lại bằng số lá hoặc “một nắm” | Không đặt liệu trình làm tan u hoặc áp dụng cho mọi nguyên nhân tiểu khó |
| Ung thư | Có hướng dẫn truyền miệng theo số lá và giai đoạn bệnh | Không chuyển thành liều sản phẩm; nghiên cứu tế bào chưa xác lập đơn điều trị ở người |
| Sa dạ con sau sinh | Có nhắc trong bài báo, chưa xác minh được nghiên cứu điều trị | Không hướng dẫn thai phụ hoặc người sau sinh tự dùng; cần khám chuyên khoa |
Với sản phẩm này, thông tin cần có trước khi phối là đúng bộ phận hoàn ngọc, số gram, tên đầy đủ của từng vị, cách sắc, số lần và thời gian đánh giá. Bản chỉ ghi “một nắm”, “một thìa” hoặc thiếu tên loài không nên tự bổ sung bằng phỏng đoán.
Nhiều website lặp lại cùng một công thức chưa tạo thành nhiều bằng chứng độc lập. Những bài trên là kinh nghiệm thuốc Nam được ghi nhận; không tự gán tên cổ phương hoặc thêm vị để làm công thức có vẻ đầy đủ hơn. Người có bệnh nền, đang dùng thuốc, thai phụ và trẻ nhỏ cần được hướng dẫn riêng.
Sản phẩm phù hợp cho người cần mua đúng dược liệu hoàn ngọc khô theo hướng dẫn, hoặc cơ sở sử dụng có yêu cầu rõ về bộ phận và quy cách. Với mục tiêu tiêu hóa, cần xác định bệnh trước để lựa chọn phù hợp.
Người đang tìm chè dây khô cần lưu ý đó là dược liệu riêng, không phải một tên khác của hoàn ngọc. Không tự ghép nhiều cây cùng được quảng cáo cho dạ dày thành bài mới.
Cần được hướng dẫn trước khi dùng nếu là thai phụ, người cho con bú, trẻ nhỏ, người cao tuổi dùng nhiều thuốc, người suy gan, suy thận hoặc đang điều trị ung thư.
Người dùng thuốc hạ đường huyết, hạ huyết áp hoặc thuốc tác động lên nhịp tim nên thông báo với bác sĩ. Đây là thận trọng dựa trên tín hiệu dược lý tiền lâm sàng; tương tác ở người chưa được mô tả đầy đủ để định mức nguy cơ.
Một nghiên cứu trên cao ethanol lá ở chuột không ghi nhận tử vong hoặc biểu hiện độc rõ trong phạm vi liều và thời gian khảo sát. Kết quả này chỉ giới hạn ở mẫu cao, động vật và thiết kế đó.
Không thể từ thử nghiệm ngắn hạn suy ra cây an toàn tuyệt đối, dùng càng nhiều càng tốt hoặc phù hợp thai phụ. Hàng khô, lá tươi và các bộ phận khác cần được đánh giá riêng.
Ngừng dùng khi có phát ban, buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy tăng hoặc biểu hiện bất thường. Khó thở, sưng môi lưỡi, ngất hoặc suy yếu nhanh cần cấp cứu.
Đau bụng dữ dội, sốt, vàng da, tiểu ít, phân đen, nôn máu hoặc sút cân chưa rõ nguyên nhân cần được khám. Không dùng hoàn ngọc để chờ tự khỏi các biểu hiện này.
Không tự ngừng thuốc bệnh nền. Nếu có sử dụng dược liệu, ghi lại lượng, ngày bắt đầu và các sản phẩm dùng cùng để người điều trị đánh giá.
Để gói nơi khô thoáng, tránh nắng và nguồn ẩm. Đóng kín sau mở, dùng dụng cụ khô lấy dược liệu; không cho phần đã tráng nước vào lại túi.
Hạn sử dụng theo nhãn thực tế. Không tự gia hạn từ ngày mua hoặc ngày phơi lại. Hàng mốc, mọt, mùi chua hay ẩm bất thường cần loại bỏ; rửa hoặc đun sôi không phải cách phục hồi chất lượng.

Búpxanh giới thiệu cây hoàn ngọc khô túi 1kg, mã chnbx. Khi đặt, xác nhận phần lá hoặc thân lá, dạng cắt và số lượng; nhu cầu rễ riêng cần được hỏi rõ trước.
Búpxanh có tư cách pháp nhân chịu trách nhiệm về nguồn dược liệu, xuất xứ và có hóa đơn đầu vào, đầu ra hợp pháp. Khách hàng cung cấp thông tin hóa đơn nếu cần, xác nhận phí giao nhận và điều kiện đổi trả theo đơn hàng.
Với mục tiêu chăm sóc sức khỏe cụ thể, nên tham vấn người có chuyên môn (bác sĩ YHCT/đông y).
Trong phạm vi bài này, đó là những tên thường dùng cho cây được nghiên cứu dưới tên Pseuderanthemum palatiferum. Tên danh pháp hiện được Kew chấp nhận là Pseuderanthemum latifolium.
Không nên đồng nhất hai tên. Xương khỉ thường chỉ cây bìm bịp, là dược liệu khác hoàn ngọc.
Cần xác nhận theo nhãn và đơn hàng. Bài không mặc định túi thân lá có rễ hoặc áp kết quả nghiên cứu rễ cho phần lá.
Nguồn phổ biến có ghi 10–20g khô/ngày, nhưng chưa xác lập thành liều chuẩn cho mọi bộ phận và mọi trường hợp. Dùng theo người kê; công thức 40g là ghi nhận riêng, không phải mức mặc định.
Không áp dụng tương đương. Hàng khô dùng theo cách đã được hướng dẫn, không lấy số lá tươi đổi thành gram tùy ý.
Có nghiên cứu tế bào và hướng nghiên cứu thành phần, nhưng chưa có dữ liệu lâm sàng được xác minh trong bài để khẳng định hàng khô điều trị ung thư hoặc làm nhỏ khối u.
Có nguồn lưu truyền nhắc tuổi cây, nhưng chưa xác minh được dữ liệu đối chứng để coi mốc 7 năm là tiêu chí hiệu quả. Không dùng mẹo nhai lá để xử trí tăng huyết áp.
Kiểm duyệt chuyên môn: Trần Văn Bằng – Y sĩ Y học cổ truyền.
Người gửi / điện thoại
ĐC: E67 Đường Phú Thuân , Phường Phú Thuận, Quận 7, Hồ Chí Minh
GPKD: 41G8026476 ngày 30/07/2015 - MST: 037085015723
Email:duoclieubupxanh@gmail.com
Website: https://trungtamduoclieu.vn