Giá: 230.000 VND
Đánh giá 1 lượt đánh giá
Bạch giới tử là hạt chín đã làm khô của cây cải trắng Sinapis alba, thường phối hợp trong các phương ôn phế hóa đàm, lý khí và thông kinh lạc. Dạng sống và dạng sao cần được chọn đúng theo đơn. Búpxanh chịu trách nhiệm về nguồn dược liệu, xuất xứ và hóa đơn hợp pháp. Liên hệ xác nhận quy cách, trọng lượng và giá trước khi mua.
Bạch giới tử là hạt chín đã làm khô của cây cải trắng Sinapis alba L. Trong y học cổ truyền, vị thuốc có tính ấm, vị cay, thường được phối trong các phương ôn phế hóa đàm, lý khí, tán kết và thông kinh lạc chỉ thống.
Nhu cầu sử dụng thường liên quan ho nhiều đờm thuộc chứng hàn, tức ngực do đàm và đau tê thuộc chứng đàm thấp. Bạch giới tử cũng có ghi nhận dùng ngoài, nhưng cách này cần kiểm soát chặt vì hạt nghiền tiếp xúc với nước có thể gây kích ứng da. Khi đặt mua, cần chọn đúng hạt cải trắng và đúng dạng sống hoặc đã sao theo yêu cầu của đơn.

Giá bán: liên hệ Búpxanh để nhận báo giá theo khối lượng đặt mua.
Dạng sản phẩm: bạch giới tử khô – hạt cải trắng. Trọng lượng, dạng bào chế, ngày đóng gói và hạn dùng theo nhãn thực tế. Khối lượng túi là lượng hàng mua, không phải liều sử dụng một ngày.
| Nội dung | Thông tin |
|---|---|
| Tên vị thuốc | Bạch giới tử |
| Tên thông dụng | Hạt cải trắng, white mustard seed |
| Tên khoa học | Sinapis alba L. |
| Tên đồng nghĩa gặp trong tài liệu | Brassica hirta Moench |
| Họ thực vật | Brassicaceae – họ Cải |
| Tên dược liệu | Semen Sinapis albae |
| Bộ phận dùng | Hạt từ quả chín, đã phơi hoặc sấy khô |
| Dạng thuốc thường gặp | Hạt sạch; hạt đã sao theo yêu cầu bào chế |
Không gọi Semen Sinapis albae là tên khoa học của cây: đây là tên dược liệu. Cũng không coi mọi loại hạt cải dùng trong thực phẩm là bạch giới tử của đơn thuốc.
Tài liệu Khoa Dược Đại học Tôn Đức Thắng lưu ý phân biệt bạch giới tử từ Sinapis alba với giới tử từ Brassica juncea. Một số nghiên cứu quốc tế dùng tên Sinapis Semen cho phạm vi gồm cả hai nguồn; khi đọc kết quả cần kiểm tra loài thực sự được khảo sát.
Mù tạt thành phẩm có thể chứa nhiều nguyên liệu, gia vị và phụ gia. Không dùng sản phẩm này thay hạt dược liệu trong đơn, và không suy từ tên “mustard” để kết luận mọi chế phẩm đều có cùng thành phần hoặc liều.
Hạt thường gần hình cầu, nhỏ, màu trắng xám hoặc vàng nhạt. Bản chuyên luận được tra cứu mô tả đường kính khoảng 1,5–3mm, bề mặt có vân mạng nhỏ và rốn hạt dạng chấm. Hạt chứa dầu; khi nghiền và tiếp xúc nước có thể xuất hiện mùi, vị cay hăng.
Khi nhận hàng, kiểm tra độ khô, tạp chất, hạt lép và tình trạng toàn túi. Hạt có mùi ôi, mốc, ẩm dính hoặc bị côn trùng cần loại bỏ. Màu hạt chỉ là một dấu hiệu cảm quan, không đủ để xác định chắc chắn loài hay toàn bộ chất lượng.
Hạt nguyên, hạt giã dập và bột có cách bảo quản khác nhau. Dạng đã nghiền dễ tiếp xúc với không khí và ẩm hơn; nên chuẩn bị theo nhu cầu của đơn thay vì nghiền cả túi để cất lâu.
Bạch giới tử sống là dược liệu đã làm sạch, loại tạp. Dạng sao được xử lý bằng nhiệt theo phương pháp bào chế; màu, mùi và tính chất cảm quan có thể thay đổi.
Không mặc định hàng khô đã sao. Nếu đơn ghi “bạch giới tử sao”, cần xác nhận với bên bán. Việc giã dập hay cho vào túi sắc cũng phải phù hợp hướng dẫn của toàn phương, không tự dùng một cách cho mọi bài thuốc.
Một thành phần đặc trưng của hạt cải trắng là sinalbin, thuộc nhóm glucosinolat. Hạt còn có enzym myrosinase, dầu béo, protein, chất nhầy và những dẫn chất liên quan acid sinapic.
Khi hạt bị nghiền và gặp nước, enzym có thể thủy phân glucosinolat, tạo các sản phẩm góp phần gây cay và kích ứng tại chỗ. Đây là cơ sở để hiểu vì sao hạt nguyên trong túi và hỗn hợp bột ướt trên da có tác động khác nhau.
Thông tin thành phần không xác nhận hàm lượng của hàng bán. Không ghi tỷ lệ dầu hoặc hoạt chất của một lô nếu chưa có kiểm nghiệm. Một nghiên cứu về dầu bay hơi hay cao chiết cũng không thể coi là nghiên cứu trực tiếp của nước sắc hạt tại nhà.

Bạch giới tử có vị cay, tính ôn, quy kinh Phế. Nguồn chuyên luận và tài liệu giảng dạy ghi nhận các hướng ôn phế hóa đàm, lý khí, tán kết, thông kinh lạc và chỉ thống. Công dụng cần được đọc cùng chứng trạng và phương phối hợp.
Đây là hướng sử dụng tiêu biểu của vị thuốc. Bạch giới tử thường đi cùng những vị giáng khí và tiêu thực trong Tam tử dưỡng thân thang.
Chọn phương không chỉ dựa vào việc “có đờm”. Ho khan, ho ít đờm kèm họng khô, ho có máu hoặc ho do bệnh nền cần được đánh giá khác. Màu đờm cũng không tự xác định nguyên nhân hay thay thế việc khám khi triệu chứng kéo dài.
Vị cay ấm không có nghĩa càng uống nhiều càng hóa đàm tốt. Lượng dùng và thời gian cần phù hợp với người bệnh, nhất là người có dạ dày nhạy cảm.
Trong cách giải thích cổ truyền, khí và đàm có quan hệ: khí trệ có thể làm đàm khó vận hành, đàm lại cản trở khí cơ. Bạch giới tử được phối để góp phần lý khí và hóa đàm trong chứng thích hợp.
“Tức ngực do đàm” là phạm vi biện chứng, không phải cách tự kết luận mọi đau ngực là đàm. Đau ngực mới xuất hiện, đau lan, vã mồ hôi hoặc khó thở cần được đánh giá y tế.
Tài liệu cổ truyền ghi nhận bạch giới tử trong phạm vi tê đau gân xương khi đàm thấp lưu trú. Vai trò này thường được xem xét trong phương phối hợp, cùng các vị xử lý phần khí, huyết, hàn hoặc thấp.
Đau do chấn thương, đau thần kinh, khớp sưng nóng và tê kéo dài có cách đánh giá khác nhau. Không biến công năng “thông kinh lạc” thành cam kết phục hồi tổn thương thần kinh hoặc chữa mọi bệnh xương khớp.
Bạch giới tử có mặt trong Dương hòa thang, một phương ôn dương bổ huyết, tán hàn thông trệ. Các thuật ngữ âm thư, đàm hạch hay thũng trong y văn phải được đọc theo bối cảnh cổ truyền.
Không đồng nhất “tán kết” với làm tan u hoặc điều trị ung thư. Khối bất thường, vùng sưng không rõ nguyên nhân hoặc sưng kéo dài cần được khám trước khi lựa chọn phương.
Cơ sở dữ liệu của Đại học Y Dược Trung Quốc tại Đài Loan còn ghi nhận hướng ôn trung khai vị và lợi khí hóa đàm. Trong Tam tử dưỡng thân thang, việc tiêu thực liên quan cả lai phục tử và cấu trúc toàn phương.
Không dùng riêng bạch giới tử như một cách kích thích ăn uống cho mọi người. Ăn kém đi cùng đau thượng vị, nôn, sút cân hoặc nuốt khó cần tìm nguyên nhân.
Bạch giới tử từng được dùng trong những phương đắp ngoài và dán huyệt. Tác động gây nóng, đỏ da là một đặc điểm cần kiểm soát, không phải dấu hiệu chứng minh thuốc đang chữa được bệnh.
Không tự tăng độ đặc, phủ kín diện rộng, đắp qua đêm hoặc cố chịu đau rát để “đạt tác dụng”. Khi có phồng rộp hay tổn thương da, đó là phản ứng bất lợi cần xử lý.
Sản phẩm phù hợp với người cần đúng vị thuốc này trong đơn được hướng dẫn, người mua để tìm hiểu và sử dụng một phương có nguồn sau khi được đánh giá, hoặc cơ sở chuyên môn cần hạt dược liệu theo yêu cầu.
Người chưa biết nguyên nhân ho, tức ngực hoặc đau tê nên được đánh giá trước. Khi tham vấn, cần cung cấp thuốc đang dùng, tiền sử dị ứng, bệnh tiêu hóa và bệnh tim mạch để chọn phương sát tình trạng.
Phụ nữ mang thai, người cho con bú, trẻ nhỏ, người suy gan hoặc suy thận không tự áp dụng liều của người lớn. Người dị ứng mustard/hạt cải cần tránh sử dụng.
Bản tra cứu chuyên luận Dược điển Việt Nam V ghi 3–9g/ngày, dạng sắc hoặc hoàn tán. Trang Khoa Dược Đại học Tôn Đức Thắng hiện nêu 6–12g/ngày và dẫn Dược điển Việt Nam VI. Đây là hai ghi nhận khác nguồn; bài không coi mức cao hơn là lựa chọn chung.
| Dạng hoặc phương tham khảo | Lượng bạch giới tử | Cách hiểu |
|---|---|---|
| Vị thuốc theo bản tra cứu Dược điển V | 3–9g/ngày | Khoảng tham khảo, cần lựa chọn theo đơn |
| Trang Khoa Dược Tôn Đức Thắng dẫn Dược điển VI | 6–12g/ngày | Thông tin dẫn nguồn từ cơ sở đào tạo; chưa dùng để tự tăng liều |
| Tam tử dưỡng thân thang, bản cơ sở dữ liệu HKBU | 9g trong công thức tham khảo | Phối cùng tô tử và lai phục tử; nguyên thư không ghi liều |
| Dương hòa thang, bản HKBU | 6g trong công thức tham khảo | Là một vị trong phương bảy vị |
| Dùng ngoài | Không có liều chung để tự áp dụng | Phải xét chế phẩm, vùng da và cách theo dõi |
Không cộng các mức trong bảng. Không lấy số gam của cao chiết, hạt cốm hoặc dầu để thay cho số gam hạt khô.
Cân đúng vị theo đơn, kiểm tra tạp và tình trạng hạt. Giã dập hoặc dùng túi sắc theo hướng dẫn. Nếu dùng ấm điện sắc thuốc, chọn lượng nước và chế độ theo toàn phương.
Không tự đặt lượng nước cố định cho mọi bài thuốc có hạt. Thời gian sắc và cách cho vị phụ thuộc phương đang dùng; không mặc định sắc càng lâu càng tốt.
Nước sắc nên dùng trong ngày. Không uống khi có dấu hiệu biến chất, không tự kéo dài sử dụng nếu triệu chứng không cải thiện hoặc xuất hiện biểu hiện mới.
Các công thức dưới đây là tài liệu tham khảo về cấu trúc và lượng thuốc được nguồn trình bày. Chúng cần được chọn theo biện chứng trước khi sử dụng.
Thành phần theo cơ sở dữ liệu phương thuốc Đại học Baptist Hồng Kông:
| Vị thuốc | Lượng tham khảo |
|---|---|
| Tô tử – hạt tía tô | 9g |
| Bạch giới tử | 9g |
| Lai phục tử – hạt củ cải | 9g |
Nguồn ghi nguyên thư không xác định liều; mức 9g mỗi vị là lượng tham khảo được cơ sở dữ liệu trình bày. Cách dùng có ghi sao nhẹ, giã dập, bọc vải rồi sắc nhẹ.
Theo giải thích phương, tô tử thiên về giáng khí, bạch giới tử thiên về ôn hóa hàn đàm, lai phục tử góp phần tiêu thực và giáng khí. Công dụng là của cả phương, không phải riêng bạch giới tử.
Tên “dưỡng thân” không có nghĩa dùng như thuốc bổ thường ngày cho mọi người cao tuổi. Người yếu, ho khan hoặc không thuộc chứng phù hợp cần phương khác.
Thành phần theo phiên bản HKBU:
Nguồn phương: Ngoại khoa chứng trị toàn sinh tập. Bạch giới tử góp phần ôn hóa hàn đàm và thông trệ trong phương.
Đây là phương cần biện chứng và kiểm tra an toàn toàn bộ thành phần. Ma hoàng và cam thảo có những lưu ý riêng, nhất là với bệnh tim mạch, tăng huyết áp, rối loạn nhịp hoặc thuốc đang dùng. Không tự dùng cho một khối sưng chưa được chẩn đoán.
Tài liệu thuốc cổ truyền có nhắc Bạch giới tử tán trong phạm vi đau tê do đàm thấp, với những phối hợp có thể gồm vị cần kiểm soát độc tính. Nguồn được tra cứu chưa xác định trọn công thức an toàn phù hợp sản phẩm này nên bài không tự thêm liều hoặc hướng dẫn phối tại nhà.
Đặc biệt, công thức có mã tiền cần được người có chuyên môn kiểm soát chặt; không sao chép thành một đơn tự dùng từ bài giới thiệu dược liệu.
Dán huyệt là một hình thức sử dụng riêng, có thể phối nhiều vị và phụ liệu. Không dùng công thức đường uống để đắp, cũng không dùng một công thức dán của cơ sở khác khi chưa rõ dạng thuốc và tiêu chí theo dõi.
Tình trạng da, tiền sử dị ứng và khả năng theo dõi phản ứng tại chỗ là những yếu tố cần đánh giá. Bài không cung cấp công thức bột đắp qua đêm hoặc thao tác thủy châm bằng dược liệu.
Tổng quan năm 2023 về Sinapis Semen tổng hợp nhiều hướng dược lý liên quan hô hấp, phản ứng viêm và thành phần hóa học. Tuy nhiên, phạm vi tổng quan gồm cả S. alba và B. juncea, với nhiều chế phẩm và mô hình khác nhau.
Do đó, cần đọc đúng từng nghiên cứu trước khi áp dụng cho bạch giới tử. Không gom mọi kết quả thành danh sách công dụng đã chứng minh ở người; đặc biệt không dùng nghiên cứu của cải nâu làm bằng chứng trực tiếp cho hạt cải trắng.
Ruan và cộng sự khảo sát dầu bay hơi từ hạt cải trắng như chất tăng thấm cho một số thuốc mô hình. Nghiên cứu xem xét sự thay đổi hàng rào da và các cơ chế tế bào liên quan.
Giá trị của công trình nằm ở hướng phát triển chế phẩm đưa thuốc qua da. Đây không phải hướng dẫn tự pha dầu hoặc đắp bột hạt để đưa thuốc đang uống xuyên qua da. Nồng độ thử nghiệm không được dùng như ngưỡng an toàn cho mọi hỗn hợp tự chế.
Công trình năm 2013 khảo sát sự thấm qua da của mẫu chiết cải trắng và ảnh hưởng lên tế bào Langerhans cùng các cytokine tại chỗ. Nghiên cứu góp phần tìm hiểu cơ chế của chế phẩm dùng ngoài.
Dữ liệu cơ chế không xác định rằng dán bạch giới tử đơn độc chữa hen. Khi một phương có nhiều vị, tác dụng và phản ứng bất lợi cũng cần được đánh giá cho cả phương.
Một thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi đã phân nhóm 113 người có viêm lợi, so sánh kem đánh răng có chiết xuất Sinapis alba với kem đối chứng trong bốn tuần. Các tiêu chí gồm chỉ số mảng bám, chảy máu khi thăm dò và một số vi khuẩn trong nước bọt.
Công trình báo cáo những cải thiện của nhóm chế phẩm thử nghiệm. Đây là dữ liệu trên người của kem đánh răng có công thức cụ thể, không phải hạt nguyên hoặc nước sắc. Không từ đó khuyến cáo chà bột bạch giới tử lên lợi hay tự pha kem đánh răng.
Một báo cáo ca mô tả tổn thương dạng bỏng độ hai sau khi người bệnh đắp hỗn hợp có hạt mustard lên vùng gối đau. Báo cáo nhắc đến hỗn hợp hạt cải, không xác định mọi trường hợp dùng S. alba sẽ có cùng mức tổn thương; nhưng cho thấy nguy cơ thực tế khi tự đắp.
Phồng rộp không phải mục tiêu cần đạt. Cần tháo bỏ chế phẩm khi có phản ứng bất thường và được đánh giá y tế nếu da tổn thương.
| Nội dung | Loại ghi nhận | Ý nghĩa đối với hàng bán |
|---|---|---|
| Tam tử dưỡng thân thang, Dương hòa thang | Phương cổ truyền có nguồn | Cơ sở tìm hiểu vai trò vị thuốc và lượng trong phương |
| Ho, viêm, tăng thấm qua da | Chủ yếu thực nghiệm và nghiên cứu chế phẩm | Không tự quy thành hiệu quả hạt khô dùng riêng |
| Kem đánh răng cải trắng | Thử nghiệm trên người | Chỉ áp dụng trực tiếp cho chế phẩm và mục tiêu nghiên cứu |
| Tổn thương da sau đắp hỗn hợp hạt cải | Báo cáo ca | Cảnh báo nguy cơ của cách dùng ngoài thiếu kiểm soát |
Trong các tài liệu đã tra cứu, chưa có cơ sở để cam kết tỷ lệ giảm ho hay thời gian khỏi bệnh cho sản phẩm hạt khô này. Ứng dụng phù hợp là cung cấp đúng vị thuốc để sử dụng theo phương được hướng dẫn.
Health Canada liệt kê mustard trong nhóm dị nguyên thực phẩm cần chú ý. Người đã biết dị ứng không dùng bạch giới tử, kể cả dùng ngoài, khi chưa được bác sĩ chuyên khoa đánh giá.
Mề đay, sưng môi lưỡi, khó thở, khò khè hoặc choáng sau tiếp xúc cần được xử trí y tế ngay. Không thử lại bằng liều ít hơn để kiểm tra.
Người có đau thượng vị, viêm loét tiêu hóa hoặc dễ nôn cần hỏi chuyên môn trước khi dùng. Không tự dùng liều cao vì hạt có tính kích ứng; ngừng và trao đổi với người kê khi xuất hiện đau bụng, nôn hoặc tiêu lỏng sau uống.
Bản chuyên luận được tra cứu có kiêng kỵ phế hư, ho khan. Đây là lưu ý cổ truyền cần được đánh giá khi chọn phương, không sử dụng bảng triệu chứng để tự phân loại thể bệnh.
Không tự đắp lên da trầy, niêm mạc, quanh mắt hoặc vùng da đang viêm; không phủ kín qua đêm. Trẻ nhỏ, người giảm cảm giác và người không tự nhận biết được nóng rát có thể khó phát hiện tổn thương sớm.
Không thoa thêm một hỗn hợp khác lên vùng đã phồng rộp. Nếu tổn thương sâu, đau nhiều hoặc lan rộng, cần được chăm sóc y tế.
Dữ liệu tương tác của hạt cải trắng dùng làm thuốc còn hạn chế; không ghi “không có tương tác”. Cần xét thêm các vị trong phương, nhất là ma hoàng, cam thảo và những vị có độc tính.
Thai phụ, người cho con bú, trẻ em, người suy gan hoặc thận cần được hướng dẫn riêng. Cơn khó thở, đau ngực cấp hoặc dấu hiệu dị ứng nặng không phù hợp để chờ sắc thuốc.
Giữ hạt trong bao bì kín, nơi khô thoáng, tránh ẩm và nhiệt cao. Đóng kín sau mỗi lần mở, dùng dụng cụ khô và giữ nhãn để theo dõi lô hàng.
Hạn sử dụng theo nhãn thực tế. Hạt có mùi ôi, mốc hoặc dấu côn trùng cần loại bỏ, không chỉ rửa hoặc sao lại. Nếu đã giã dập theo đơn, chuẩn bị và bảo quản theo hướng dẫn dành cho dạng này.

Búpxanh có tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm về nguồn dược liệu và xuất xứ, có hóa đơn đầu vào và đầu ra hợp pháp. Khi đặt mua, khách hàng cần xác nhận đúng hạt cải trắng, dạng sống hay đã sao, trọng lượng và giá tương ứng.
Tham khảo hướng dẫn đặt hàng tại Trung tâm Dược liệu. Phí vận chuyển, giao nhận và đổi trả theo chính sách được xác nhận cho đơn thực tế.
Nếu mua để sử dụng trong bài thuốc hoặc dùng ngoài, nên tham vấn người có chuyên môn (bác sĩ YHCT/đông y).
Là hạt chín đã làm khô của cây cải trắng Sinapis alba, không phải rễ.
Không tự thay. Cần xác định đúng loài và dạng dược liệu; giới tử từ Brassica juncea không mặc nhiên là cùng hàng.
Không. Công dụng cổ truyền nổi bật liên quan đàm hàn; ho khan hoặc thể bệnh khác cần được đánh giá để lựa chọn phương.
Bản tra cứu Dược điển V ghi 3–9g/ngày; một nguồn cơ sở đào tạo dẫn mức khác. Liều thực tế theo đơn và dạng chế biến, không tự chọn mức cao nhất.
Tài liệu có ghi giã dập khi dùng; thực hiện theo hướng dẫn của phương. Không nghiền toàn bộ túi rồi bảo quản lâu nếu chưa có nhu cầu.
Không mặc nhiên như vậy. Chọn đúng dạng trên nhãn và yêu cầu của đơn.
Không. Nóng rát và phồng rộp có thể là dấu hiệu kích ứng, cần ngừng tiếp xúc và xử lý phù hợp.
Không suy như vậy từ thử nghiệm. Nghiên cứu dùng một chế phẩm có công thức riêng, không phải bột hạt chà trực tiếp lên răng lợi.
Liên hệ Búpxanh để xác nhận quy cách hiện có và báo giá theo khối lượng. Bài chưa tự gán giá bán khi chưa có dữ liệu thực tế.
Kiểm duyệt chuyên môn: Trần Văn Bằng – Y sĩ Y học cổ truyền.
Người gửi / điện thoại
ĐC: E67 Đường Phú Thuân , Phường Phú Thuận, Quận 7, Hồ Chí Minh
GPKD: 41G8026476 ngày 30/07/2015 - MST: 037085015723
Email:duoclieubupxanh@gmail.com
Website: https://trungtamduoclieu.vn