Giá: 350.000 VND
Đánh giá 1 lượt đánh giá
Bạch linh khô, còn gọi bạch phục linh, là phần trắng của hạch nấm phục linh dùng trong y học cổ truyền. Sản phẩm Búpxanh đóng túi 1kg, thuận tiện dùng. Vị thuốc thường được phối hợp để kiện tỳ, thẩm thấp, lợi thủy và ninh tâm an thần. Liều dùng theo đơn và thể trạng; cần phân biệt với phục thần, xích phục linh và phần vỏ phục linh.
Bạch linh, còn gọi bạch phục linh, là vị thuốc lấy từ phần trắng của hạch nấm phục linh. Dược liệu được làm khô, thường cắt thành miếng hoặc phiến để sử dụng trong thuốc sắc, thuốc bột và những dạng bào chế phù hợp.
Trong y học cổ truyền, bạch linh được biết đến với công năng kiện tỳ, thẩm thấp, lợi thủy và ninh tâm an thần. Vị thuốc thường có mặt trong phương dành cho tỳ hư ăn kém, phân lỏng, thấp trệ, tiểu ít hoặc giấc ngủ không yên thuộc thể phù hợp. Điểm cần biết trước khi mua là bạch linh khác với phục thần, xích phục linh và phục linh bì; đơn thuốc yêu cầu dạng nào cần chọn đúng dạng đó.

| Thông tin | Chi tiết |
|---|---|
| Sản phẩm | Bạch linh khô – bạch phục linh |
| Quy cách niêm yết | Túi 1kg |
| Mã sản phẩm | blbx |
| Đơn vị cung cấp | Búpxanh |
Khách hàng xác nhận dạng hàng, số lượng và thông tin đơn khi đặt mua. Phí giao nhận và ưu đãi, nếu có, theo chính sách được xác nhận khi chốt đơn.
Phục linh là tên vị thuốc thường gặp trong đơn Đông y; bạch phục linh chỉ phần có màu trắng bên trong, được gọi ngắn là bạch linh. Tài liệu dược liệu thường dùng tên Poria cocos (Schw.) Wolf.; các công bố hiện đại cũng sử dụng những danh pháp thuộc chi Wolfiporia.
Đây là dược liệu có nguồn gốc nấm, không phải rễ của một cây mang tên bạch linh. Bộ phận dùng được mô tả chính xác là hạch nấm khô – sclerotium, một khối hệ sợi nấm đặc chắc. Cách gọi “củ phục linh” là tên thông thường dựa trên hình dạng khối; không nên vì thế ghi là củ hoặc rễ thực vật.
Nhiều tài liệu Việt Nam xếp phục linh vào họ Nấm lỗ – Polyporaceae theo hệ phân loại sử dụng trong tài liệu. Khi đọc nghiên cứu, cần nhận diện cả tên khoa học, bộ phận và dạng chiết, không chỉ dựa vào tên “poria”.
| Dạng vị thuốc | Bộ phận nhận diện | Điểm cần lưu ý |
|---|---|---|
| Bạch phục linh | Phần trắng của hạch nấm | Dạng sản phẩm được giới thiệu trong bài |
| Xích phục linh | Phần có sắc hồng hoặc nâu nhạt | Không mặc định đồng nhất với bạch linh |
| Phục linh bì | Lớp vỏ ngoài | Dạng riêng, thường được nhắc trong phương lợi thủy |
| Phục thần | Phần hạch nấm ôm đoạn rễ thông | Thường được lựa chọn trong phương ninh tâm an thần |
Những phần này có liên hệ nguồn gốc nhưng không hoàn toàn giống nhau trong sử dụng cổ truyền. Khi đơn ghi phục thần, không tự coi bạch linh thường là sản phẩm tương đương. Người mua cần gửi đúng tên vị và dạng bào chế trong đơn.
Bạch linh sau chế biến thường có màu trắng ngà hoặc trắng đục, thành miếng vuông, phiến hoặc khối không đều. Chất tương đối chắc, ít mùi, vị nhạt. Kích thước thay đổi theo cách cắt; hàng nguyên liệu có thể không đồng đều như viên thành phẩm.
Khi kiểm tra hàng, chú ý độ khô, mùi và tạp chất. Không sử dụng dược liệu ẩm, có mùi mốc hoặc dấu hiệu mọt. Màu trắng sáng không tự chứng minh độ tinh khiết hay hàm lượng hoạt chất.
Bạch linh khô cũng không đồng nhất với bột pha sẵn. Khối dược liệu được cân theo gram; bột hoặc cao có thể có quy trình, tỷ lệ chiết và hướng dẫn khác. Không lấy liều của một sản phẩm dạng bột để áp dụng cho mọi loại hàng mang tên phục linh.
Tên hàng, khối lượng, dạng cắt, thông tin nhãn và hạn dùng giúp khách hàng lựa chọn đúng nhu cầu. Nếu cần bạch linh cho một thang có yêu cầu cắt nhỏ hoặc tán bột, nên thông báo trước. Dược liệu dùng theo đơn cần bảo đảm đúng vị, không chọn chỉ vì hình ảnh có màu giống nhau.
Về nguyên tắc, hạch nấm được làm sạch, xử lý để thuận tiện bóc phần ngoài và cắt, sau đó làm khô. Phần trắng được chế biến thành bạch linh. Quy trình cụ thể của một lô hàng cần căn cứ thông tin thực tế, không suy ra từ tên gọi.
Sản phẩm trên trang là dược liệu khô. Không mặc định hàng đã nghiền, chuẩn hóa polysaccharide, chế với thành phần khác hoặc hút chân không nếu bao bì chưa thể hiện điều đó.
Bạch linh dùng trong món ăn là một ứng dụng khác với thuốc sắc. Khi có nhu cầu này, cần chọn nguyên liệu phù hợp thực phẩm, nấu chín và thực hiện theo hướng dẫn; không coi một món chè hoặc cháo là phương điều trị bệnh đã được chuẩn hóa.
Hai nhóm được nghiên cứu nhiều trong phục linh là polysaccharide và triterpenoid. Trong đó, tài liệu đề cập các glucan như pachyman và những acid triterpen, chẳng hạn pachymic acid.
Các dạng polysaccharide tách chiết có thể khác về cấu trúc, độ tan và phương pháp chế biến. Một dẫn xuất polysaccharide dùng trong nghiên cứu không đồng nhất với phần trắng khô đem sắc ở nhà.
Bài viết không công bố tỷ lệ polysaccharide hoặc hoạt chất cho sản phẩm Búpxanh khi chưa có kết quả kiểm nghiệm tương ứng. Khối lượng túi 1kg là khối lượng dược liệu, không phải lượng polysaccharide tinh khiết. Những mô tả như “hàm lượng cao nhất” cần dữ liệu đo và đối chứng phù hợp.

Bạch linh thường được mô tả vị ngọt, nhạt, tính bình. Các tài liệu ghi quy kinh Tâm, Tỳ, Thận; một số còn liệt kê Phế và Vị. Công năng nổi bật là lợi thủy thẩm thấp, kiện tỳ hòa trung và ninh tâm an thần.
Tên tạng trong Đông y là hệ chức năng phục vụ biện chứng. “Kiện tỳ” không đồng nghĩa trực tiếp với chữa bệnh lách; “quy kinh Thận” cũng không phải bằng chứng phục linh chữa mọi bệnh thận.
Bạch linh thường được phối hợp trong phương kiện tỳ khi người bệnh ăn kém, cảm giác nặng nề, tiêu hóa không tốt hoặc phân lỏng trong bối cảnh tỳ khí hư và thấp. Vai trò của vị thuốc được hiểu trong toàn phương: vừa hỗ trợ hướng kiện tỳ, vừa xử lý thấp trệ theo lý luận cổ truyền.
Không phải mọi trường hợp đầy bụng đều thuộc tỳ hư. Đầy bụng do ăn quá nhiều, táo bón, nhiễm trùng hoặc một bệnh tiêu hóa khác cần cách xử lý khác. Người mua dược liệu nên dựa trên đơn hoặc hướng dẫn riêng, tránh tự chẩn đoán từ một vài triệu chứng.
Bạch truật thường xuất hiện cùng phục linh trong các phương kiện tỳ, nhưng hai vị có vai trò riêng; không tự thay thế bằng cách tăng lượng một vị.
“Thẩm thấp” và “lợi thủy” là hai công năng thường được nhắc cùng phục linh. Vị này xuất hiện trong phương nhằm điều hòa tình trạng thủy thấp theo biện chứng, chẳng hạn Ngũ linh tán hoặc Linh quế truật cam thang.
Phù và tiểu ít cần xác định nguyên nhân. Không tự dùng bạch linh để “đẩy hết nước” khi chưa biết tình trạng tim, gan, thận hoặc thuốc đang sử dụng. Người được chỉ định hạn chế dịch càng cần hướng dẫn riêng về lượng nước sắc và lượng uống trong ngày.
Mục tiêu dùng thuốc không phải đi tiểu càng nhiều càng tốt. Theo dõi triệu chứng và đánh giá chuyên môn giúp tránh dùng kéo dài chỉ vì muốn thấy tác dụng lợi tiểu.
Phục linh và phục thần được ghi nhận trong các phương ninh tâm an thần. Việc chọn vị và phối hợp phụ thuộc người bệnh có khí huyết hư, đàm thấp hay những biểu hiện khác. Không phải mọi mất ngủ đều dùng cùng một phương.
“An thần” trong bối cảnh cổ truyền không có nghĩa bạch linh gây ngủ ngay sau một lần uống. Người ngủ kém do đau, ngưng thở khi ngủ, thuốc hoặc lo âu cần được đánh giá nguyên nhân. Hồi hộp kéo dài, choáng hoặc ngất cần khám, không tự quy thành chứng cần phục linh.
Bạch linh có mặt trong Lục quân tử và Hương sa lục quân tử, những phương được dùng khi tỳ vị hư đi cùng đàm hoặc đầy tức theo thể phù hợp. Ở đây, thuốc được sử dụng theo toàn bộ cơ chế bệnh trong Đông y, không phải chỉ thêm bạch linh vào nước uống là đủ.
Bán hạ trong những phương này là dạng đã chế theo nguồn. Không tự dùng bán hạ sống thay thế. Trần bì có vai trò riêng trong phối hợp, cần chọn lượng theo phương và từng người.
Phục linh còn được dùng trong một số món ăn hoặc chế phẩm chăm sóc da. Các ứng dụng này cần được xem riêng về nguyên liệu và cách chế biến. Kinh nghiệm dùng bột ngoài da không chứng minh bạch linh làm trắng, trị nám hoặc trị mọi bệnh da.
Hàng dược liệu khô không mặc định là nguyên liệu mỹ phẩm đã kiểm soát vi sinh. Không đắp bột lên da tổn thương; người có da nhạy cảm cần thận trọng. Không dùng nước chanh, rượu hoặc nguyên liệu kích ứng để tự tạo mặt nạ mang danh bài thuốc.
Bạch linh phù hợp nhất với người mua dược liệu theo đơn có phục linh hoặc bạch phục linh. Thầy thuốc có thể cân nhắc trong chứng tỳ hư thấp trệ, ăn kém phân lỏng, thủy thấp hoặc giấc ngủ không yên thuộc thể phù hợp.
Người cần bồi dưỡng sau bệnh không nên mặc định cứ mệt là dùng bạch linh. Nếu mệt kéo dài, sụt cân, phù, khó thở hoặc rối loạn tiêu hóa nhiều, cần đánh giá nguyên nhân trước khi lựa chọn phương.
| Tài liệu hoặc bối cảnh | Lượng phục linh được ghi nhận |
|---|---|
| Đỗ Tất Lợi, mục Phục linh | 5–10g/ngày |
| Bệnh viện Y học cổ truyền TP.HCM | 9–15g/ngày, thường phối hợp |
| Tứ quân tử, công thức cơ sở Đài Loan | 6g, toàn phương 26g dược liệu/ngày |
| Ngũ linh tán, công thức cơ sở Đài Loan | 4,5g, toàn phương 24g dược liệu/ngày |
| Linh quế truật cam, công thức cơ sở Đài Loan | 10g, toàn phương 30g dược liệu/ngày |
Các lượng trong công thức cơ sở phục vụ chuẩn hóa một phương hoặc chế phẩm; không dùng để thay thế liều riêng trong đơn. Không cộng các khoảng liều hoặc tự tăng chỉ vì triệu chứng nặng.
Cân đúng gram theo đơn, kiểm tra hàng và thực hiện việc làm sạch theo hướng dẫn. Cho bạch linh vào thang cùng các vị được chỉ định; dùng lượng nước và cách sắc của đơn. Kích thước miếng và thành phần cả thang ảnh hưởng cách chuẩn bị.
Không đặt một thời gian sắc hay số lần sắc chung cho mọi bài thuốc. Nếu đơn có vị sắc trước hoặc cho sau, cần tuân thủ đúng yêu cầu đó. Hai phương có lượng nước cụ thể trong tài liệu được trình bày riêng ở phần dưới.
Thuốc bột cần phương pháp chế biến, liều mỗi lần và dụng cụ chia liều phù hợp. Liều ghi “mỗi lần 10g” của một hỗn hợp không có nghĩa dùng 10g riêng bạch linh. Viên hoàn còn có tá dược và các thành phần khác; phải dùng theo nhãn hoặc đơn.
Với món ăn, cần nguyên liệu phù hợp thực phẩm và nấu chín. Không lấy liều thuốc sắc để xây dựng món ăn trị bệnh, hoặc mặc định ăn càng nhiều càng tốt vì vị thuốc tính bình.
Bạch linh là khối hạch nấm chắc, khác lá trà. Không coi việc hãm nhanh một vài miếng trong cốc nước là tương đương thuốc sắc. Nếu cần dùng dưới dạng trà thành phẩm hoặc bột pha, theo hướng dẫn của đúng sản phẩm đó.
Thời gian phụ thuộc đơn và diễn biến người bệnh. Nếu không cải thiện hoặc có khó chịu mới, cần đánh giá lại thay vì dùng nối tiếp nhiều tháng. Nước sắc dùng theo lượng hướng dẫn trong ngày; bảo quản sạch và bỏ khi nghi ngờ hỏng.
Các công thức dưới đây giúp hiểu vai trò của phục linh. Công thức cơ sở Đài Loan ghi lượng dược liệu tương ứng mỗi ngày cho chế phẩm, không phải chỉ dẫn tự kê đơn cho mọi trường hợp. Liều thực dùng và cách sắc cần được lựa chọn riêng.
Công thức cơ sở: nhân sâm 6g, phục linh 6g, bạch truật 6g, chích cam thảo 3g, sinh khương 3g, đại táo 2g. Tổng 26g dược liệu/ngày.
Nguồn công bố công năng ích khí kiện tỳ, dùng trong tỳ vị khí hư với ăn ít, phân lỏng và tiêu hóa kém. Không tự thay nhân sâm bằng đảng sâm rồi giữ nguyên mọi thông số; việc thay vị cần người kê đơn quyết định.
Công thức cơ sở: bạch biển đậu 2,3g; nhân sâm, phục linh, bạch truật, cam thảo, hoài sơn mỗi vị 3g; liên nhục, cát cánh, ý dĩ, sa nhân, đại táo mỗi vị 1,5g. Tổng 24,8g dược liệu/ngày; nguồn ghi chế phẩm truyền thống không thêm đại táo.
Phương được ghi cho tỳ vị hư yếu, ăn ít và phân lỏng. Đây là phương phối hợp, không suy ra bạch linh đơn độc có toàn bộ công năng của phương.
Công thức cơ sở: nhân sâm, bạch truật, phục linh, bán hạ chế mỗi vị 5g; chích cam thảo, trần bì, sinh khương, đại táo mỗi vị 2,5g. Tổng 30g dược liệu/ngày.
Nguồn ghi bổ khí hòa trung, dùng khi tỳ vị hư yếu, ăn kém, phân lỏng và khí hư có đàm. Bán hạ phải đúng dạng chế; không tự thay bằng hàng sống.
Công thức cơ sở: nhân sâm 2,5g, bạch truật 5g, phục linh 5g, cam thảo 2g, trần bì 2g, bán hạ chế 2,5g, sa nhân 2g, mộc hương 2g, sinh khương 5g. Tổng 28g dược liệu/ngày.
Nguồn ghi kiện tỳ dưỡng vị, dùng trong khí hư đàm ẩm với đầy tức, nôn hoặc ợ. Phương cần biện chứng; không dùng mọi trường hợp nôn như nhau.
Công thức cơ sở: trư linh 4,5g, trạch tả 7,5g, phục linh 4,5g, quế chi 3g, bạch truật 4,5g. Tổng 24g dược liệu/ngày.
Phương cổ xuất xứ Thương hàn luận, được ghi công năng hóa khí lợi thủy, kiện tỳ khử thấp. Trạch tả là vị khác phục linh; không bỏ rồi tăng bạch linh để tự tạo phương mới. Người phù hoặc tiểu ít cần khám trước khi dùng.
Công thức cơ sở: phục linh 10g, quế chi 7,5g, bạch truật 7,5g, chích cam thảo 5g. Tổng 30g dược liệu/ngày.
Nguồn dẫn Kim quỹ yếu lược, dùng trong đàm ẩm với đầy tức ngực sườn, chóng mặt, hồi hộp theo thể phù hợp. Quế chi không đồng nhất với mọi dạng quế bán để nấu ăn. Hồi hộp kèm đau ngực hoặc ngất cần đánh giá y tế.
Tài liệu ghi phục linh 8g, cam thảo 3g, quế chi 4g, sinh khương 3g, sắc với 400ml nước còn 200ml, chia 3 lần/ngày, trong mục phù thũng và sợ hãi. Đây là phương riêng của nguồn, không đổi tên thành Linh quế truật cam vì không có bạch truật.
Nguồn còn ghi phương phục linh 10g, mộc thông 5g, tang bạch bì 10g. Phương này chỉ nên thực hiện khi người kê đơn xác định đúng dược liệu, đặc biệt nguồn mộc thông; bài không đưa cách tự mua phối để tránh nhầm loài.
Một số tài liệu cũ có phương hoàn dùng chu sa làm áo. Chu sa chứa thủy ngân, cần kiểm soát đặc biệt; không giữ công thức đó như cách tự làm viên an thần cho khách hàng. Các thông tin dùng liều nhỏ cho trẻ em trong báo cáo cũ cũng không được chuyển thành liều khuyến nghị cho trẻ hiện nay.
Các tổng quan hiện đại đề cập lợi tiểu, chống viêm, chống oxy hóa, điều hòa miễn dịch, chuyển hóa đường–lipid và hoạt tính trên tế bào ung thư. Một số công bố khảo sát polysaccharide, acid triterpen hoặc dẫn xuất trên mô hình gan, thận, tiêu hóa và hệ vi sinh.
Nhiều kết quả thuộc nghiên cứu tế bào hoặc động vật. Việc ghi rõ mô hình giúp người đọc biết kết quả có thể gợi ý cơ chế đến đâu. Không chuyển một liều tính theo mg/kg động vật thành số gram bạch linh khô dùng cho người.
Tổng quan năm 2026 dẫn những mô hình động vật về tổn thương thận và tăng acid uric, sử dụng chiết xuất hoặc hợp chất phục linh. Đây là hướng nghiên cứu; chưa đủ để công bố sản phẩm khô này phục hồi chức năng thận, đào thải acid uric hoặc điều trị gút.
Tương tự, tác dụng bảo vệ gan trong một mô hình không chứng minh bạch linh chữa viêm gan B. Người có bệnh gan, thận cần đánh giá riêng trước khi thêm dược liệu vào điều trị.
“Điều hòa miễn dịch” trong nghiên cứu không phải lúc nào cũng là làm tăng mọi phản ứng miễn dịch. Cần xem loại tế bào, chỉ dấu và điều kiện thử. Hoạt tính kháng khuẩn của một dịch chiết cũng không có nghĩa nước sắc có thể điều trị nhiễm trùng.
Người dùng thuốc ức chế miễn dịch, điều trị ung thư hoặc sau ghép tạng cần trao đổi trực tiếp với nhóm điều trị; không tự dùng với mục tiêu “tăng miễn dịch”.
Nghiên cứu năm 2024 của Hao và cộng sự phân ngẫu nhiên 70 người vào nhóm giả dược hoặc chế phẩm phối hợp phục linh, táo nhân và GABA, theo dõi 4 tuần. Công bố ghi nhận cải thiện một số chỉ tiêu giấc ngủ ở nhóm can thiệp.
Kết quả thuộc chế phẩm phối hợp, không chứng minh bạch linh đơn độc hoặc nước sắc từ sản phẩm này có hiệu quả tương đương. Thời gian và quy mô nghiên cứu cũng chưa bảo đảm an toàn dùng dài ngày cho mọi đối tượng.
Tổng quan năm 2022 gồm 73 thử nghiệm với 6.489 người đái tháo đường type 2, khảo sát các công thức chứa phục linh. Kết quả gợi ý cải thiện một số chỉ tiêu đường huyết, nhưng nhiều thử nghiệm có hạn chế về làm mù, báo cáo và nguy cơ thiên lệch công bố.
Bằng chứng thuộc các công thức khác nhau, thường có điều trị phối hợp. Không dùng kết quả này để quảng cáo túi bạch linh khô hạ đường huyết với một liều cố định. Người dùng thuốc tiểu đường cần theo dõi theo kế hoạch điều trị.
Peng và cộng sự năm 2022 tổng hợp 13 thử nghiệm, 922 người ung thư buồng trứng, đánh giá phương chứa phục linh phối hợp paclitaxel–carboplatin. Báo cáo gợi ý lợi ích ở một số chỉ tiêu đáp ứng, chức năng và tác dụng không mong muốn; nghiên cứu thành phần có khác biệt và cần kiểm chứng thêm.
Đó là nghiên cứu toàn phương trong điều trị chuyên khoa, không phải thử nghiệm sản phẩm bạch linh dùng đơn độc. Vì vậy, không công bố bạch linh khô chữa ung thư hoặc tự động giảm tác dụng phụ hóa trị.
| Nhóm | Cách hiểu |
|---|---|
| Cổ truyền | Công năng, biện chứng và phối ngũ |
| Tiền lâm sàng | Hoạt chất hoặc chiết xuất trên tế bào, động vật |
| Lâm sàng phối hợp | Kết quả của toàn chế phẩm hoặc bài thuốc |
| Hàng bạch linh khô | Không mặc định đã được thử trực tiếp như chế phẩm nghiên cứu |
Người tiểu nhiều, khô khát hoặc có biểu hiện âm hư mà không có thấp cần được thầy thuốc đánh giá trước khi dùng. Không tự chọn vị lợi thủy để điều trị mọi tình trạng liên quan đường tiểu. Bí tiểu rõ, phù tăng hoặc khó thở cần khám sớm.
Việc phục linh xuất hiện trong cổ phương không xác lập một liều tự dùng an toàn cho thai phụ hoặc trẻ. Các nhóm này cần hướng dẫn riêng. Không dùng lại liều trẻ em từ một báo cáo cũ khi chưa xét tuổi, cân nặng, nguyên nhân bệnh và dạng thuốc.
Cung cấp danh sách thuốc, thực phẩm bổ sung và dược liệu cho người kê đơn. Đặc biệt cần đánh giá khi dùng thuốc lợi tiểu, thuốc tiểu đường, thuốc chống đông hoặc thuốc ức chế miễn dịch; thông tin tương tác của bạch linh dùng đơn lẻ còn hạn chế, không đủ để khẳng định hoàn toàn không tương tác.
An toàn còn phụ thuộc cả thang. Phương có cam thảo cần xem lượng, thời gian và bệnh nền, nhất là khi có vấn đề huyết áp, giữ nước hoặc điện giải.
Ngừng nếu xuất hiện phát ban, ngứa, buồn nôn hoặc rối loạn tiêu hóa sau dùng và liên hệ nhân viên y tế. Khó thở, sưng môi/lưỡi cần cấp cứu. Phù tăng nhanh, tiểu giảm rõ, đau ngực, ngất, tiêu chảy mất nước hoặc nôn kéo dài cần được đánh giá sớm.
Để bạch linh khô nơi khô, thoáng, tránh nắng và nguồn ẩm. Sau mở túi, đóng kín hoặc chia vào hộp nhỏ sạch, dùng dụng cụ khô để lấy. Không bỏ phần đã ngâm nước trở lại bao.
Hạn dùng theo nhãn thực tế; không tự tính từ ngày mua. Loại bỏ hàng mốc, mọt, đổi mùi hoặc ẩm bất thường. Không rửa rồi phơi lại dược liệu đã hỏng để tiếp tục sắc.

Búpxanh có tư cách pháp nhân chịu trách nhiệm về nguồn dược liệu và xuất xứ, có hóa đơn đầu vào và đầu ra hợp pháp. Khách hàng cung cấp đúng tên vị, quy cách và số lượng; nếu đơn cần phục thần hoặc phục linh bì, cần đặt đúng dạng đó.
Đặt qua trang sản phẩm hoặc xem hướng dẫn đặt hàng tại Búpxanh. Phí giao nhận, thời gian và đổi trả theo chính sách được xác nhận khi chốt đơn, không mặc định mọi đơn đều miễn phí vận chuyển.
Có thể đọc thêm bài tìm hiểu bạch linh và bạch phục linh. Trước khi dùng với mục tiêu điều trị, nên tham vấn người có chuyên môn (bác sĩ YHCT/đông y).
Bạch linh là cách gọi ngắn của bạch phục linh, phần trắng của hạch nấm phục linh.
Có nguồn gốc từ nấm. Bộ phận làm thuốc là hạch nấm, không phải rễ cây.
Không tự thay. Phục thần là phần ôm rễ thông và được lựa chọn theo yêu cầu của đơn.
Đỗ Tất Lợi ghi 5–10g/ngày; Bệnh viện YHCT TP.HCM ghi 9–15g/ngày, thường phối hợp. Lượng thực dùng theo đơn và trường hợp cụ thể.
Không nên kỳ vọng tác dụng gây ngủ tức thời. Vị thuốc được dùng theo hướng ninh tâm trong phương phù hợp; nghiên cứu giấc ngủ đã nêu dùng chế phẩm phối hợp.
Không có căn cứ được kiểm tra trong bài để khẳng định sản phẩm khô này chữa các bệnh đó. Những nghiên cứu về hợp chất hoặc bài thuốc phối hợp cần được hiểu đúng phạm vi.
Không mặc định phù hợp. Thuốc bột cần cách chế biến và liều riêng; với món ăn cần nguyên liệu phù hợp thực phẩm và nấu chín.
Sản phẩm được đóng túi 1kg. Khách hàng xác nhận dạng miếng hoặc phiến đang cung cấp khi đặt mua.
Người gửi / điện thoại
ĐC: E67 Đường Phú Thuân , Phường Phú Thuận, Quận 7, Hồ Chí Minh
GPKD: 41G8026476 ngày 30/07/2015 - MST: 037085015723
Email:duoclieubupxanh@gmail.com
Website: https://trungtamduoclieu.vn