NV1: 0948808065
NV2: 0977768823
NV3: 0971011106
Thời gian làm việc: từ thứ 2 đến thứ 7, Từ 7h30 - 21h

Cây thuốc dòi (Pouzolzia zeylanica) được dân gian sử dụng cho ho, viêm họng và một số vấn đề sức khỏe khác. Các nghiên cứu đã ghi nhận cây chứa flavonoid, triterpenoid, sterol, saponin cùng nhiều hợp chất sinh học. Thử nghiệm tiền lâm sàng cho thấy tiềm năng chống oxy hóa, kháng viêm, giảm đau và kháng khuẩn, nhưng bằng chứng lâm sàng trên người hiện còn hạn chế.
Cây thuốc dòi, còn gọi là cây bọ mắm hay thuốc giòi, có tên khoa học Pouzolzia zeylanica (L.) Benn., thuộc họ Gai (Urticaceae). Đây không chỉ là cây được sử dụng theo kinh nghiệm dân gian mà còn là đối tượng của nhiều nghiên cứu về thực vật học, thành phần hóa học và hoạt tính sinh học.
Đáng chú ý, các nghiên cứu đã xác định trong cây có nhiều nhóm hợp chất như flavonoid, triterpenoid, sterol, saponin và polysaccharid. Một số thử nghiệm trong phòng thí nghiệm và trên động vật cũng ghi nhận hoạt tính chống oxy hóa, kháng viêm, giảm đau và kháng khuẩn ở các mức độ khác nhau.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ công dụng theo kinh nghiệm sử dụng truyền thống với tác dụng đã được nghiên cứu tiền lâm sàng và hiệu quả điều trị đã được chứng minh trên người. Đây là điểm đặc biệt quan trọng khi đánh giá giá trị của cây thuốc dòi một cách khách quan.
Người cần tìm hiểu nguyên liệu thực tế có thể xem sản phẩm cây thuốc dòi – cây bọ mắm tại Trung Tâm Dược Liệu Búp Xanh.

Cây thuốc dòi trong bài này được xác định là:
Tên khoa học: Pouzolzia zeylanica (L.) Benn.
Họ: Urticaceae – họ Gai.
Tên thường gọi: cây thuốc dòi, thuốc giòi, cây bọ mắm, cỏ dòi.
Dạng sống: cây thân thảo.
Bộ phận được sử dụng trong dược liệu truyền thống: chủ yếu phần trên mặt đất/toàn cây bỏ rễ tùy tài liệu.
Bộ môn Dược liệu – Khoa Dược, Đại học Y Dược TP.HCM ghi nhận dược liệu là toàn cây bỏ rễ (Herba Pouzolziae), có thể thu hái quanh năm.
Nếu cần xem dạng nguyên liệu đang được cung cấp, có thể tham khảo cây thuốc dòi khô tại Búp Xanh.
Trước khi có các nghiên cứu hóa học và dược lý hiện đại, cây thuốc dòi đã được sử dụng trong kinh nghiệm dân gian.
Theo cơ sở dữ liệu cây thuốc của Bộ môn Dược liệu – Khoa Dược, Đại học Y Dược TP.HCM, cây được ghi nhận trong kinh nghiệm sử dụng liên quan đến:
Cảm, ho.
Ho kéo dài.
Viêm họng.
Một số vấn đề đường ruột như lỵ, viêm ruột.
Một số tình trạng đường tiết niệu.
Một số bệnh ngoài da, nhọt và tổn thương có mủ.
Ngoài mục đích làm thuốc, tên gọi “thuốc giòi/bọ mắm” còn gắn với kinh nghiệm sử dụng cây để hạn chế giòi bọ trong đời sống dân gian.
Những thông tin trên phản ánh cách sử dụng truyền thống, không đồng nghĩa tất cả các chỉ định này đã được thử nghiệm lâm sàng và xác nhận hiệu quả điều trị trên người.
Qua cách sử dụng được ghi nhận trong các tài liệu dược liệu, cây thuốc dòi thường được biết đến nhiều nhất trong nhóm người tìm các cây thuốc dân gian liên quan đến đường hô hấp, đặc biệt là ho và viêm họng.
Ngoài ra còn có những cách sử dụng truyền thống liên quan đến tiêu hóa, tiết niệu và ngoài da.
Tuy nhiên, không nên từ những ghi nhận này suy luận rằng mọi người mắc các bệnh nói trên đều phù hợp để tự sử dụng cây thuốc dòi. Nguyên nhân gây ho, viêm họng, rối loạn tiêu hóa hay triệu chứng đường tiết niệu rất đa dạng và có thể cần chẩn đoán chuyên môn.
Đây là một trong những phần đã có dữ liệu nghiên cứu tương đối rõ.
Một nghiên cứu tại Việt Nam khảo sát mẫu Bọ mắm trồng tại Phú Yên đã xác định sơ bộ cây là Pouzolzia zeylanica (L.) Benn.
Qua các phản ứng hóa học đặc trưng, nghiên cứu ghi nhận sự hiện diện của:
Flavonoid.
Saponin.
Đường khử.
Chất béo.
Sterol.
Polysaccharid.
Nghiên cứu này có giá trị trong việc xây dựng dữ liệu nhận dạng và bước đầu tiêu chuẩn hóa nguyên liệu, nhưng bản thân việc phát hiện các nhóm chất chưa chứng minh cây có khả năng điều trị bệnh cụ thể.
Một nghiên cứu công bố năm 2012 đã phân lập và xác định 14 hợp chất từ Pouzolzia zeylanica, bao gồm:
β-sitosterol.
Daucosterol.
Oleanolic acid.
Epicatechin.
α-amyrin.
Scopolin.
Scopoletin.
Quercetin.
Quercetin-3-O-β-D-glucoside.
Apigenin.
Một số dẫn xuất acid ursolic.
Các glycoside và hợp chất khác.
Điều này cho thấy thành phần hóa học của cây thuốc dòi khá đa dạng chứ không chỉ có một hoạt chất duy nhất.
Nhóm flavonoid được ghi nhận khá nhất quán trong nhiều nghiên cứu.
Các chất đã được xác định hoặc phân lập gồm:
Quercetin.
Apigenin.
Epicatechin.
Vitexin.
Naringenin.
Một số flavonoid glycoside.
Flavonoid là nhóm hợp chất được nghiên cứu rộng rãi về hoạt tính chống oxy hóa và nhiều hoạt tính sinh học khác. Tuy nhiên, tác dụng của một flavonoid riêng lẻ không thể tự động được quy thành hiệu quả điều trị của toàn cây thuốc dòi.
Một số triterpenoid được ghi nhận gồm:
Oleanolic acid.
Ursolic acid.
2α-hydroxyursolic acid.
α-amyrin.
Bauerenol.
Một số dẫn xuất triterpenoid khác.
Đây cũng là nhóm hợp chất đang được quan tâm trong các nghiên cứu dược lý của cây.
β-sitosterol, daucosterol và các sterol khác đã được phân lập hoặc phát hiện.
Nghiên cứu mới công bố năm 2026 trên phần củ/rễ của P. zeylanica cũng ghi nhận hàm lượng đáng kể các hợp chất liên quan đến triterpenoid, sterol và saponin.
Cần lưu ý nghiên cứu này khảo sát phần củ/rễ ven biển, vì vậy không nên lấy trực tiếp số liệu định lượng của nghiên cứu đó áp cho sản phẩm toàn cây/phần trên mặt đất đang lưu hành trên thị trường.

Các nghiên cứu công bố năm 2026 cung cấp thêm dữ liệu đáng chú ý về Pouzolzia zeylanica.
Một nghiên cứu đăng trên tạp chí Molecules đã phân lập 8 hợp chất từ cây, gồm các triterpenoid và flavonoid.
Các hợp chất được khảo sát về:
Khả năng chống oxy hóa in vitro.
Ức chế quá trình peroxy hóa lipid.
Ảnh hưởng đến sản xuất nitric oxide (NO).
TNF-α.
IL-6 trên tế bào đại thực bào RAW 264.7.
Đây là các chỉ dấu thường được sử dụng để nghiên cứu cơ chế liên quan đến phản ứng viêm.
Kết quả góp phần củng cố cơ sở nghiên cứu về tiềm năng chống oxy hóa và kháng viêm của một số thành phần trong cây.
Nhưng đây vẫn là nghiên cứu in vitro, chưa phải thử nghiệm điều trị bệnh trên người.
Chống oxy hóa là một trong những hoạt tính được nghiên cứu nhiều đối với Pouzolzia zeylanica.
Nghiên cứu dược lý trước đây đã sử dụng nhiều mô hình như:
DPPH.
Khả năng khử đồng.
Khả năng khử sắt.
Khả năng loại bỏ nitric oxide.
Tổng năng lực chống oxy hóa.
Kết quả cho thấy dịch chiết cây có hoạt tính chống oxy hóa trong các hệ thử nghiệm.
Nghiên cứu năm 2026 trên phần củ/rễ cũng tiếp tục ghi nhận hoạt tính chống oxy hóa bằng nhiều phép thử hóa học.
Những kết quả này cho thấy cây chứa các thành phần có khả năng tham gia vào phản ứng chống oxy hóa trong điều kiện thí nghiệm.
Tuy nhiên, không nên chuyển kết quả này thành tuyên bố rằng uống cây thuốc dòi sẽ “chống lão hóa”, “phòng ung thư” hoặc điều trị các bệnh do stress oxy hóa trên người.
Đây là một hướng nghiên cứu đáng chú ý.
Nghiên cứu tại Việt Nam đã khảo sát hoạt tính kháng viêm in vitro thông qua khả năng ức chế sản sinh nitric oxide trên đại thực bào RAW 264.7 được kích thích bởi LPS.
Một nghiên cứu khác năm 2026 tiếp tục đánh giá khả năng tác động lên NO và các cytokine tiền viêm như TNF-α và IL-6.
Ngoài ra, nghiên cứu dược lý trước đây còn khảo sát hoạt tính kháng viêm trên mô hình gây phù tai bằng xylene ở động vật.
Như vậy có thể nói:
Cây thuốc dòi có dữ liệu tiền lâm sàng gợi ý hoạt tính kháng viêm.
Nhưng chưa nên viết thành:
“Cây thuốc dòi điều trị được các bệnh viêm ở người.”
Hai phát biểu này có mức độ bằng chứng hoàn toàn khác nhau.
Một nghiên cứu dược lý đã đánh giá dịch chiết methanol của Pouzolzia zeylanica bằng mô hình gây đau quặn bằng acid acetic trên động vật.
Kết quả cho thấy dịch chiết có hoạt tính giảm đau trong mô hình thử nghiệm.
Đây là dữ liệu tiền lâm sàng, có ý nghĩa trong việc giải thích một phần kinh nghiệm sử dụng cây nhưng chưa đủ để xác định hiệu quả giảm đau, liều điều trị hoặc độ an toàn khi dùng cho người.
Dịch chiết Pouzolzia zeylanica cũng đã được khảo sát đối với một số vi khuẩn Gram dương và Gram âm bằng phương pháp khuếch tán trên đĩa.
Các kết quả cho thấy cây có hoạt tính kháng khuẩn ở những mức độ nhất định tùy loại vi sinh vật và dịch chiết.
Điều này có thể cung cấp thêm hướng nghiên cứu cho một số cách sử dụng dân gian.
Tuy nhiên, hoạt tính kháng khuẩn trong phòng thí nghiệm không đồng nghĩa cây thuốc dòi có thể thay thế kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn ở người.
Đây có lẽ là công dụng dân gian nổi tiếng nhất của cây.
Bộ môn Dược liệu – Khoa Dược, Đại học Y Dược TP.HCM ghi nhận cây được sử dụng trong các trường hợp cảm ho, ho lâu ngày và viêm họng.
Vì vậy, có cơ sở để viết rằng:
Theo kinh nghiệm sử dụng dược liệu, cây thuốc dòi được dùng trong các trường hợp ho và viêm họng.
Nhưng cần thận trọng với câu:
“Cây thuốc dòi đã được chứng minh lâm sàng chữa ho, viêm họng.”
Qua các nguồn nghiên cứu được kiểm tra, bằng chứng hiện nay chủ yếu vẫn nằm ở kinh nghiệm sử dụng và nghiên cứu tiền lâm sàng; chưa đủ dữ liệu thử nghiệm lâm sàng chất lượng cao để khẳng định hiệu quả điều trị.
Người muốn tìm hiểu nguyên liệu được sử dụng trong dân gian có thể xem dược liệu cây thuốc dòi tại Búp Xanh.
Một số tài liệu dược liệu ghi nhận kinh nghiệm sử dụng cây đối với lỵ và viêm ruột.
Đây là ghi nhận sử dụng truyền thống.
Các nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính kháng viêm, kháng khuẩn tạo ra một số giả thuyết sinh học có thể nghiên cứu thêm, nhưng chưa đủ để kết luận cây điều trị viêm ruột, tiêu chảy do nhiễm khuẩn hay các bệnh lý đại tràng ở người.
Người bị tiêu chảy kéo dài, đi ngoài ra máu, đau bụng nhiều, sốt hoặc mất nước không nên chỉ tự sử dụng dược liệu.
Tài liệu dược liệu cũng ghi nhận cách dùng dân gian liên quan đến bí tiểu và một số tình trạng đường tiết niệu.
Tuy nhiên, hiện chưa nên diễn giải thành “cây thuốc dòi chữa nhiễm trùng đường tiết niệu” dựa chỉ trên kinh nghiệm dân gian và kết quả kháng khuẩn in vitro.
Nhiễm trùng đường tiết niệu có thể tiến triển lên thận nếu điều trị không phù hợp, vì vậy cần được đánh giá y khoa khi có triệu chứng rõ hoặc kéo dài.
Đây là phần cần đặc biệt thận trọng.
Một số hợp chất có trong cây như oleanolic acid, ursolic acid, flavonoid và các chất chống oxy hóa đã được nghiên cứu trong nhiều bối cảnh dược lý khác nhau.
Tuy nhiên, không thể lấy tác dụng đã được nghiên cứu của một hoạt chất riêng lẻ để khẳng định toàn cây thuốc dòi có tác dụng điều trị viêm gan, xơ gan hoặc bệnh gan trên người.
Qua các nghiên cứu được đối chiếu cho bài này, chưa có cơ sở lâm sàng đủ mạnh để xếp bệnh gan thành một công dụng điều trị đã được chứng minh của cây thuốc dòi.
Một số nghiên cứu cũ đã sử dụng phép thử độc tính trên ấu trùng Artemia salina và ghi nhận dịch chiết có hoạt tính gây độc tế bào trong mô hình này.
Đây chỉ là phép thử sàng lọc sinh học sơ bộ.
Kết quả gây độc trên ấu trùng hoặc hoạt tính của các hợp chất trong tế bào không chứng minh cây thuốc dòi chữa hoặc hỗ trợ điều trị ung thư trên người.
Do đó không nên sử dụng những kết quả này để quảng cáo cây thuốc dòi như một thuốc chống ung thư.
Nghiên cứu năm 2026 trên phần củ/rễ P. zeylanica đã khảo sát khả năng ức chế α-amylase và α-glucosidase.
Kết quả cho thấy khả năng ức chế hai enzyme này tương đối khiêm tốn so với các hoạt tính khác được nghiên cứu.
Điều này đặc biệt quan trọng vì nó cho thấy không phải hoạt tính nào của cây cũng mạnh.
Hiện chưa có cơ sở từ nghiên cứu này để nói cây thuốc dòi có tác dụng điều trị hoặc kiểm soát bệnh đái tháo đường ở người.
Đây là phần cần phân biệt rất rõ giữa “được sử dụng cho người” và “đã được chứng minh bằng thử nghiệm lâm sàng”.
Cây thuốc dòi đã có lịch sử sử dụng trong dân gian, đặc biệt đối với:
Ho.
Ho kéo dài.
Viêm họng.
Một số vấn đề tiêu hóa.
Một số vấn đề tiết niệu.
Một số tình trạng ngoài da.
Nhưng qua các tài liệu nghiên cứu được kiểm tra cho bài này, chưa thấy bằng chứng thử nghiệm lâm sàng đối chứng trên người đủ mạnh để xác nhận hiệu quả điều trị cho các chỉ định trên.
Phần lớn bằng chứng hiện có thuộc ba nhóm:
Kinh nghiệm sử dụng truyền thống.
Phân tích thành phần hóa học.
Nghiên cứu in vitro và trên động vật.
Vì vậy, cách diễn đạt phù hợp nhất là “được sử dụng theo kinh nghiệm dân gian”, “có hoạt tính được ghi nhận trong nghiên cứu tiền lâm sàng” hoặc “có tiềm năng đang được nghiên cứu”, tùy từng nội dung.
| Công dụng/tác dụng | Dữ liệu hiện có | Mức diễn giải phù hợp |
|---|---|---|
| Ho, viêm họng | Kinh nghiệm sử dụng dược liệu | Công dụng truyền thống |
| Kháng viêm | In vitro và động vật | Có hoạt tính tiền lâm sàng |
| Chống oxy hóa | Nhiều thử nghiệm in vitro | Có hoạt tính trong thí nghiệm |
| Giảm đau | Mô hình động vật | Dữ liệu tiền lâm sàng |
| Kháng khuẩn | In vitro | Có hoạt tính trong phòng thí nghiệm |
| Tiêu hóa | Kinh nghiệm dân gian | Chưa đủ bằng chứng lâm sàng |
| Đường tiết niệu | Kinh nghiệm dân gian | Chưa đủ bằng chứng lâm sàng |
| Gan | Một số thành phần có hoạt tính sinh học liên quan | Chưa đủ bằng chứng để khẳng định hiệu quả trên người |
| Ung thư | Một số thử nghiệm sàng lọc/cytotoxicity | Không đủ cơ sở khẳng định hỗ trợ điều trị ung thư |
| Đường huyết | Thử nghiệm enzyme, hiệu lực hạn chế | Chưa có cơ sở khẳng định hiệu quả điều trị |
Giá trị nghiên cứu của cây thuốc dòi nằm ở sự giao nhau giữa kinh nghiệm sử dụng lâu đời và dữ liệu hóa học – dược lý ngày càng được bổ sung.
Cây đã được xác định chứa nhiều nhóm chất sinh học, đặc biệt:
Flavonoid.
Triterpenoid.
Sterol.
Saponin.
Polysaccharid.
Các hợp chất phenolic.
Các nghiên cứu mới tiếp tục phát hiện và đánh giá thêm các hợp chất riêng lẻ, đồng thời làm rõ hoạt tính chống oxy hóa và kháng viêm.
Đây là nền tảng hợp lý để tiếp tục nghiên cứu, nhưng bước quan trọng còn thiếu là nghiên cứu dược động học, độc tính đầy đủ, chuẩn hóa dược liệu, xác định liều và thử nghiệm lâm sàng trên người.
Dù là cây được sử dụng trong dân gian, “tự nhiên” không đồng nghĩa tuyệt đối an toàn.
Đặc biệt cần thận trọng với:
Phụ nữ mang thai hoặc cho con bú.
Trẻ nhỏ.
Người cao tuổi có nhiều bệnh nền.
Người suy gan hoặc suy thận.
Người đang sử dụng nhiều thuốc.
Người có tiền sử dị ứng với dược liệu.
Người đang điều trị bệnh nặng.
Dữ liệu tương tác thuốc và độ an toàn dài hạn của Pouzolzia zeylanica trên người hiện còn hạn chế.
Không nên tự ý ngừng thuốc điều trị đã được kê để chuyển sang sử dụng cây thuốc dòi.
Nếu triệu chứng ho kéo dài, khó thở, ho ra máu, sốt cao, đau ngực, tiểu buốt kèm sốt, tiêu chảy kéo dài hoặc xuất hiện triệu chứng bất thường khác, cần được đánh giá chuyên môn thay vì tiếp tục tự dùng dược liệu.
Người có nhu cầu tìm nguyên liệu có thể tham khảo cây thuốc dòi khô tại Trung Tâm Dược Liệu Búp Xanh.
Khi lựa chọn dược liệu khô nên chú ý nguyên liệu còn nhận biết được thân, lá, được làm khô phù hợp, không có dấu hiệu nấm mốc, mùi lạ và hạn chế tạp chất.
Thông tin về sản phẩm, quy cách và đặt hàng được cập nhật tại trang cây thuốc dòi – cây bọ mắm Búp Xanh.
Cây thuốc dòi (Pouzolzia zeylanica) là một dược liệu dân gian đáng chú ý vì đã có cả lịch sử sử dụng truyền thống và dữ liệu nghiên cứu hiện đại.
Về hóa học, cây đã được xác định chứa nhiều nhóm chất như flavonoid, triterpenoid, sterol, saponin và polysaccharid. Một số hợp chất cụ thể như quercetin, apigenin, vitexin, naringenin, oleanolic acid, ursolic acid và β-sitosterol cũng đã được ghi nhận hoặc phân lập trong các nghiên cứu khác nhau.
Về dược lý, các nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy những hướng đáng chú ý gồm chống oxy hóa, kháng viêm, giảm đau và kháng khuẩn.
Trong dân gian, cây được sử dụng nhiều cho ho, viêm họng và một số tình trạng tiêu hóa, tiết niệu hoặc ngoài da.
Tuy nhiên, bằng chứng cần được nhìn đúng cấp độ. Phần lớn dữ liệu hiện nay vẫn là kinh nghiệm dân gian, nghiên cứu hóa học, thử nghiệm tế bào và động vật. Chưa có đủ bằng chứng lâm sàng chất lượng cao để khẳng định cây thuốc dòi điều trị các bệnh cụ thể trên người.
Cách tiếp cận phù hợp là tôn trọng kinh nghiệm sử dụng truyền thống, đồng thời sử dụng các nghiên cứu hiện đại để xác định rõ hơn thành phần, cơ chế, độ an toàn và phạm vi ứng dụng thực tế của dược liệu.
Nếu cần tìm hiểu nguyên liệu đang cung cấp, xem sản phẩm cây thuốc dòi tại Búp Xanh.
Kiểm duyệt chuyên môn: Trần Văn Bằng – Y sĩ Y học cổ truyền.
Bộ môn Dược liệu – Khoa Dược, Đại học Y Dược TP.HCM. Dữ liệu cây Thuốc giòi – Pouzolzia zeylanica.
Tạp chí Y Dược cổ truyền Việt Nam. Nghiên cứu đặc điểm thực vật và thành phần hóa học của Bọ mắm trồng tại Phú Yên.
Fu M. và cộng sự. Nghiên cứu thành phần hóa học của Pouzolzia zeylanica, 2012.
Adhikary B.C. và cộng sự. Nghiên cứu ethnopharmacology, chống oxy hóa, kháng khuẩn, giảm đau và kháng viêm của Pouzolzia zeylanica.
Nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính kháng viêm in vitro của Pouzolzia zeylanica tại Việt Nam.
Nguyen Anh Hung và cộng sự. In Silico and In Vitro Insights into the Pharmacological Potential of Pouzolzia zeylanica. Molecules, 2026.
Pham M.N. và cộng sự. Nghiên cứu thành phần hóa thực vật và hoạt tính sinh học của phần củ/rễ Pouzolzia zeylanica. Natural Product Research, 2026.
Đánh giá (0)
Người gửi / điện thoại
ĐC: E67 Đường Phú Thuân , Phường Phú Thuận, Quận 7, Hồ Chí Minh
GPKD: 41G8026476 ngày 30/07/2015 - MST: 037085015723
Email:duoclieubupxanh@gmail.com
Website: https://trungtamduoclieu.vn