Giá: 280.000 VND
Đánh giá 1 lượt đánh giá
Xà sàng tử khô là quả chín phơi hoặc sấy khô của cây xà sàng, còn gọi giần sàng. Vị thuốc có mùi thơm đặc trưng, được Đông y sử dụng để táo thấp, chỉ ngứa và ôn thận trợ dương. Dạng quả khô thuận tiện cân chia, sắc thuốc hoặc chế biến theo đơn. Khi mua tại Búpxanh, cần xác nhận bộ phận dùng và dạng sơ chế đúng.
Xà sàng tử là vị thuốc từ quả cây xà sàng, quen thuộc trong các bài thuốc Đông y dùng ngoài da và một số bài ôn thận. Người mua thường tìm với tên hạt xà sàng, hạt giần sàng; về bộ phận dược liệu, đây chủ yếu là quả chín đã làm khô.
Khi chọn mua, cần phân biệt xà sàng tử với thân lá nguyên cây. Quả khô, dược liệu đã sao và cao chiết có cách sử dụng khác nhau. Nhận diện đúng dạng hàng giúp cân chia chính xác và phù hợp với yêu cầu của bài thuốc.
Xà sàng tử thường được sử dụng ở dạng quả khô đã sàng sạch. Khách hàng mua theo đơn có thể cần nguyên liệu chưa sao hoặc dạng đã sao chế; yêu cầu này nên được xác nhận trước khi đặt.
Khối lượng tịnh, bao gói, ngày đóng gói và hạn sử dụng theo nhãn của từng lô. Nếu trang đang cung cấp thân lá khô thay vì quả, tên hàng và nội dung cần được điều chỉnh theo đúng bộ phận thực tế.

| Nội dung | Thông tin |
|---|---|
| Tên vị thuốc | Xà sàng tử |
| Tên gọi thường gặp | Quả xà sàng, hạt xà sàng, hạt giần sàng |
| Tên cây | Xà sàng, giần sàng |
| Tên khoa học được dùng trong y văn | Cnidium monnieri (L.) Cusson |
| Họ thực vật | Apiaceae – họ Hoa tán |
| Tên dược liệu | Cnidii Fructus; tài liệu cũng dùng Fructus Cnidii |
| Bộ phận dùng chính | Quả chín phơi hoặc sấy khô |
| Đặc trưng | Quả nhỏ, có gờ dọc, mùi thơm đặc trưng |
| Dạng sử dụng | Thuốc sắc, dạng bột hoặc chế phẩm theo bài thuốc; nước dùng ngoài |
| Xuất xứ và thông tin lô | Theo nhãn, hồ sơ thực tế của sản phẩm |
Xà sàng là cây thảo, thân có rãnh dọc và phân nhánh. Lá xẻ sâu thành các phần nhỏ; hoa trắng, nhỏ, tụ thành tán kép. Quả thuộc dạng quả bế đôi, có các gờ nổi. Hình thái cụm hoa và quả là những đặc điểm hữu ích khi nhận diện cây tại nơi thu hái. [1, 2]
Nguyên liệu thường là các quả nhỏ, sắc vàng nâu đến nâu, có mùi thơm khi vò. Khi mua hàng, nên xem độ sạch, tỷ lệ cuống và tạp chất, tình trạng ẩm, mùi bảo quản cùng sự đồng đều của nguyên liệu.
Dược liệu dạng bột khó quan sát hình thái hơn dạng quả. Nếu mua bột, cần xác nhận nguyên liệu đầu vào và điều kiện nghiền, đóng gói. Mùi thơm hoặc màu sắc đẹp đơn lẻ chưa đủ để đánh giá hàm lượng hoạt chất.
Các tài liệu Việt Nam ghi nhận cây xà sàng ở vùng bờ ruộng, bãi cỏ và nơi đất ẩm, được biết đến nhiều tại miền Bắc. Quả thu vào mùa cây kết quả; có cách thu cả cây, làm khô rồi đập lấy quả và sàng loại tạp chất. [2]
Quy trình sơ chế cần giữ nguyên liệu sạch, khô và hạn chế thất thoát mùi thơm. Một số cách bào chế cổ truyền phân biệt dùng sống để nấu nước ngoài da với dạng sao cho bài uống. Khi mua theo đơn, dạng sao chế phải được ghi rõ.
Nhóm chất nổi bật của xà sàng tử là coumarin, thường được nghiên cứu với các đại diện osthole, imperatorin, bergapten, xanthotoxin. Dược liệu cũng chứa tinh dầu và những thành phần khác. [3]
Trong nghiên cứu tại Việt Nam năm 2020, cao chiết quả dùng cho thí nghiệm có 35% osthole. Đây là đặc điểm của cao đã được phân tích, không phải hàm lượng mặc định trong quả khô bán trên thị trường. [4]
Sự khác biệt giữa nguyên liệu và cao chiết cần được giữ rõ khi đọc nghiên cứu. Cùng một loài cây nhưng dung môi, quy trình và tiêu chuẩn hóa có thể tạo ra những chế phẩm khác nhau đáng kể.

Xà sàng tử được ghi nhận vị cay, đắng, tính ấm, thường quy kinh Thận, Tỳ. Các công năng nổi bật gồm ôn thận trợ dương, khứ phong, táo thấp, sát trùng, chỉ dưỡng, trong đó “chỉ dưỡng” là giảm ngứa theo thuật ngữ Đông y. [1]
Đây là hướng sử dụng nổi bật của xà sàng tử, đặc biệt trong những bài dùng ngoài cho chứng ngứa, tổn thương da có yếu tố thấp theo biện chứng cổ truyền. Vị thuốc có thể xuất hiện trong bài phối nhiều vị nhằm kết hợp táo thấp và làm dịu ngứa.
Giá trị của một bài dùng ngoài phụ thuộc cả công thức và vị trí sử dụng. Bài dành cho da không đồng nghĩa chế phẩm dành cho niêm mạc; dạng nước sắc cũng khác với thuốc đĩnh hoặc thuốc đặt được bào chế.
Y văn cổ truyền dùng xà sàng tử trong một số bài cho chứng dương nuy, hạ nguyên hư hàn và các biểu hiện liên quan theo Đông y. Những thuật ngữ này cần được hiểu trong hệ thống biện chứng, không đồng nhất với mọi nguyên nhân gây giảm chức năng tình dục.
Trong nhóm dược liệu thường được tìm hiểu về thận và lưng gối, cẩu tích khô có trang giới thiệu riêng để người mua đối chiếu đặc điểm, bộ phận và vai trò của từng vị.
Xà sàng tử được ghi trong một số bài cho ngứa vùng sinh dục, đới hạ và các chứng phụ khoa theo cổ truyền. Ứng dụng này cũng đã được khảo sát ở Việt Nam dưới dạng phối hợp với hoàng bá và điều trị hiện đại, được trình bày riêng ở phần lâm sàng. [5]
Các vị thuốc cùng được nhắc đến trong nhóm “bổ thận” có vai trò khác nhau. Chẳng hạn, kim anh tử được tìm hiểu ở hướng cố sáp; tang phiêu tiêu – tổ bọ ngựa có phạm vi dùng riêng. Việc lựa chọn từng vị cần theo bài thuốc và chứng trạng cụ thể.
Công trình năm 2016 trên Scientific Reports khảo sát osthole và ghi nhận tác động lên tín hiệu ngứa phụ thuộc histamine, liên quan kênh TRPV1. Nghiên cứu sử dụng mô hình thực nghiệm để tìm hiểu cơ chế, góp phần giải thích công dụng chỉ ngứa của vị thuốc. [6]
Nghiên cứu năm 2018 trên Molecular Pharmacology ghi nhận osthole ức chế kênh TRPV3 và làm giảm hành vi gãi ở chuột trong các mô hình ngứa. Kết quả gợi ý hoạt chất có thể tác động vào nhiều mắt xích của quá trình cảm nhận ngứa. [7]
Năm 2020, một công trình đánh giá phân đoạn ethyl acetat từ quả xà sàng trên chuột gây viêm da bằng DNFB. Kết quả ghi nhận cải thiện tổn thương da, tăng sản biểu bì và thâm nhiễm dưỡng bào. Đây là dữ liệu trên động vật, sử dụng phân đoạn chiết xác định. [8]
Dau và cộng sự công bố nghiên cứu năm 2020 trên chuột đực trưởng thành. Cao quả xà sàng chuẩn hóa 35% osthole, dùng liều 150 mg/kg, làm thay đổi một số chỉ số hành vi giao phối theo hướng có lợi. Công trình cung cấp dữ liệu thực nghiệm cho kinh nghiệm ôn thận trợ dương. [4]
Liều trên là liều cao chiết ở chuột. Nghiên cứu không xác định hiệu quả điều trị rối loạn cương ở người và không thể chuyển trực tiếp thành số gam quả khô.
Các tài liệu tổng hợp còn đề cập hoạt tính trên xương, viêm, thần kinh, chuyển hóa và tế bào ung thư, phần lớn liên quan osthole hoặc các dịch chiết. Đây là những hướng phát triển dược học, cần giữ riêng với công dụng đã được chứng minh trên người. [3]
Việc một hợp chất có nhiều hoạt tính trong phòng thí nghiệm không tạo thành một danh sách bệnh mà nguyên liệu khô đã được xác nhận điều trị. Phần ứng dụng của xà sàng tử vì vậy ưu tiên những ghi nhận liên quan trực tiếp đến vị thuốc, da và sinh dục.
Người mua theo đơn có xà sàng tử: nên chọn đúng quả khô và tình trạng sao chế ghi trong đơn. Tên “cây xà sàng” khi trao đổi mua bán cần được làm rõ để giao đúng phần quả.
Người được chỉ định bài dùng ngoài cho ngứa da: cần có công thức, vị trí sử dụng và phương pháp chế biến cụ thể. Xà sàng tử có thể là một thành phần của bài phối, không phải mọi dạng ngứa đều dùng cùng một công thức.
Người được thầy thuốc đánh giá thuộc chứng thận dương hư: có thể được lựa chọn xà sàng tử trong bài phối ôn thận. Việc đánh giá cần gắn với triệu chứng, thể trạng và nguyên nhân, thay vì chọn thuốc chỉ theo tên “tráng dương”.
Cơ sở bào chế và người mua nguyên liệu chuyên môn: cần thống nhất yêu cầu về độ sạch, dạng quả, mức độ tạp chất và tiêu chuẩn kiểm nghiệm phù hợp mục đích.

Tài liệu về xà sàng thường ghi 4–12 g/ngày, dưới dạng thuốc sắc hoặc phối hợp. Khoảng này là thông tin tham khảo của dược liệu, còn lượng trong mỗi bài cần được đối chiếu riêng với dạng sắc, bột hay hoàn. [9]
Khi sắc, quả nhỏ có thể được cho trong túi vải sạch phù hợp việc sắc thuốc để thuận tiện lọc bã. Khối lượng dược liệu vẫn tính theo đơn; túi vải chỉ hỗ trợ thao tác, không làm thay đổi liều.
Lượng trong bài dùng ngoài thường khác liều uống. Công thức bên dưới ghi rõ từng vị và cách sử dụng theo tài liệu. Nước dùng ngoài được chuẩn bị riêng, lọc bã, để nguội đến nhiệt độ phù hợp và dùng trong ngày.
| Dạng | Cách hiểu lượng dùng |
|---|---|
| Quả khô trong thang sắc | Tính số gam dược liệu theo đơn |
| Bột nhiều vị | Lượng uống là lượng toàn hỗn hợp, không phải riêng xà sàng tử |
| Viên hoàn | Cần biết thành phần và khối lượng viên |
| Nước dùng ngoài | Theo bài dành cho da hoặc chỉ định chuyên môn |
| Cao chuẩn hóa osthole | Theo chế phẩm, không quy đổi trực tiếp sang quả khô |
Các công thức sau được trình bày theo nguồn, giữ rõ dạng dùng và mục đích cổ truyền. Không tự phối thêm vị hoặc đổi đường dùng.
Công thức được TTƯT.TS Nguyễn Đức Quang giới thiệu: xà sàng tử 30 g, khổ sâm 30 g, uy linh tiên 9 g, thương truật 9 g, hoàng bá 9 g, minh phàn 9 g. Sắc nước dùng ngoài trong kinh nghiệm cho eczema. [1]
“Khổ sâm” trong bài cần xác định đúng vị thuốc theo đơn; không tự thay bằng khổ sâm cho lá là loài cây khác.
Thành phần: xà sàng tử và ba kích, mỗi vị 12 g; ngũ vị tử, phá cố chỉ, nhục quế, mỗi vị 8 g.
Cách dùng trong nguồn: tán bột hoặc làm viên; lượng hỗn hợp 24 g/ngày, dùng với nước sắc dây tơ hồng đã sao 30 g. Bài được ghi trong nhóm kinh nghiệm cho nam dương nuy, nữ cung hàn theo Đông y. [2]
Đây là định lượng của cả bài và của hỗn hợp sau bào chế, không phải liều xà sàng tử đơn độc.
Báo Sức khỏe & Đời sống ghi công thức xà sàng tử 15 g, hoàng bá 15 g sắc nước trong kinh nghiệm dùng tại chỗ cho viêm âm đạo do trùng roi. Đây là tư liệu về công thức; cách dùng tại niêm mạc thuộc phạm vi hướng dẫn chuyên môn. [1]
Trang hoa mào gà đỏ có giới thiệu bài phối kê quan hoa với xà sàng tử. Đây là liên kết để đối chiếu thêm nguyên liệu và ghi chép dân gian; không gộp bài này với công thức đã được nghiên cứu tại bệnh viện.
Mai Anh Đức, Nguyễn Thị Thủy và Nguyễn Khắc Điền công bố bài “Hiệu quả điều trị viêm âm đạo bằng phương pháp kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh” năm 2021. Bài mô tả 96 người bệnh giai đoạn 2018–2020, sử dụng hoàng bá, xà sàng tử kết hợp Polygynax; tác giả báo cáo tỷ lệ khỏi 94,79%. [5]
Đây là kết quả của điều trị phối hợp, với thiết kế được tác giả mô tả là cắt ngang. Không có căn cứ tách tỷ lệ trên thành hiệu quả riêng của xà sàng tử hay của túi nguyên liệu khô bán lẻ.
| Phạm vi | Dữ liệu được đối chiếu |
|---|---|
| Ngứa, thấp và các chứng dùng ngoài | Kinh nghiệm cổ truyền; nghiên cứu cơ chế và động vật |
| Viêm âm đạo | Có báo cáo dùng phối hợp tại Việt Nam; chưa xác định hiệu quả riêng của một vị |
| Ôn thận, chức năng tình dục | Y văn truyền thống và thực nghiệm trên chuột |
| Xương, thần kinh, ung thư | Chủ yếu nghiên cứu hợp chất hoặc tiền lâm sàng |
Giá trị của các ghi nhận là giúp xác định hướng sử dụng và nghiên cứu tiếp. Khi chọn nguyên liệu, cần giữ đúng loài, bộ phận, dạng bào chế và mục tiêu của từng bài.
Giữ xà sàng tử trong túi hoặc lọ kín, sạch, khô; đặt nơi thoáng, tránh nắng và nguồn nhiệt. Đóng kín sau khi lấy, dùng dụng cụ khô và hạn chế mở túi nhiều lần. Hạn sử dụng theo nhãn lô hàng.
Nguyên liệu có mùi mốc, biến chất, sâu mọt hoặc ẩm bết cần loại bỏ. Không xem việc sao hoặc phơi lại là biện pháp xử lý dược liệu đã mốc.

Khi đặt mua xà sàng tử khô tại Búpxanh, khách hàng gửi tên vị thuốc, khối lượng và yêu cầu nguyên liệu sống hay đã sao. Nếu mua theo đơn, nên cung cấp yêu cầu sơ chế để đối chiếu đúng dạng hàng.
Búpxanh cung cấp thông tin hàng và hóa đơn theo giao dịch thực tế. Bao gói, ảnh nguyên liệu, giao nhận, phí vận chuyển và điều kiện đổi trả được xác nhận trước khi hoàn tất đơn.
Khách hàng tìm hiểu thêm nhóm nguyên liệu dùng trong kinh nghiệm ngoài da có thể xem bèo cái – phù bình. Mỗi sản phẩm được giới thiệu riêng về nhận biết và công dụng, giúp lựa chọn đúng nhu cầu.
Là vị thuốc từ quả chín làm khô. Trong mua bán và cách gọi dân gian, người dùng thường gọi là hạt xà sàng.
Thân lá và quả là những bộ phận khác nhau. Cần mua đúng bộ phận ghi trong đơn hoặc công thức sử dụng.
Theo Đông y, nổi bật ở táo thấp, chỉ ngứa, ôn thận trợ dương. Các hướng này có mức độ bằng chứng khác nhau, được phân loại trong bài.
Không. Đó là cao chiết được chuẩn hóa dùng trong một nghiên cứu. Không lấy hàm lượng này để mô tả mọi sản phẩm quả khô.
Không. Vị thuốc còn có lịch sử dùng ngoài da và được ghi nhận trong một số bài phụ khoa, với dạng dùng và chỉ định riêng.
Cách sao chế phụ thuộc bài và đường sử dụng. Khi mua theo đơn, cần đối chiếu yêu cầu thay vì áp dụng một cách sơ chế cho mọi trường hợp.
Chọn theo đơn và thời gian dự kiến sử dụng, đồng thời cân nhắc điều kiện bảo quản. Khối lượng bao gói được xác nhận theo hàng thực tế khi đặt.
Xà sàng tử có tính ấm; người âm hư, có biểu hiện nhiệt cần được biện chứng trước khi dùng. Phụ nữ mang thai, đang cho con bú, trẻ nhỏ, người suy gan, suy thận hoặc đang dùng thuốc không nên tự áp dụng bài uống. Dữ liệu tiền lâm sàng đã nêu tín hiệu độc tính gan, thận và khả năng ảnh hưởng enzym chuyển hóa thuốc của osthole; mức độ tương tác thực tế ở người còn cần làm rõ. Không tự tăng liều hoặc dùng dài ngày chỉ vì là dược liệu.
Với bài dùng ngoài, tránh mắt, vùng loét sâu và vùng da đang kích ứng mạnh. Không tự bơm, thụt rửa sâu âm đạo hoặc tự làm thuốc đặt từ nguyên liệu khô; các ứng dụng trên niêm mạc cần chỉ định và chế phẩm phù hợp. Ngừng dùng nếu rát, nổi ban hoặc ngứa tăng. Triệu chứng phụ khoa, tổn thương da hoặc rối loạn chức năng tình dục kéo dài cần được xác định nguyên nhân. Trước khi dùng, nên tham vấn người có chuyên môn (bác sĩ YHCT/đông y).
Người gửi / điện thoại
ĐC: E67 Đường Phú Thuân , Phường Phú Thuận, Quận 7, Hồ Chí Minh
GPKD: 41G8026476 ngày 30/07/2015 - MST: 037085015723
Email:duoclieubupxanh@gmail.com
Website: https://trungtamduoclieu.vn