Giá: 130.000 VND
Đánh giá 1 lượt đánh giá
Cây bạch liễm làm trà tại Búpxanh là chè dây khô, dùng hãm hoặc nấu nước uống. Sản phẩm đóng túi 1kg, giá 130.000 đồng, phù hợp người tìm trà thảo dược và chăm sóc dạ dày theo hướng dẫn chuyên môn. Bài viết giúp phân biệt với rễ bạch liễm, tìm hiểu công dụng, liều dùng, nghiên cứu, cách pha và những lưu ý cần biết trước khi dùng.
Cây bạch liễm làm trà tại Búpxanh là chè dây khô, dùng để hãm hoặc nấu nước uống. Sản phẩm dành cho người tìm trà thảo dược và người muốn tìm hiểu cách sử dụng chè dây trong chăm sóc dạ dày theo hướng dẫn chuyên môn.
Trong kinh nghiệm dùng cây thuốc Việt Nam, chè dây được nhắc nhiều với tình trạng đau dạ dày, khó chịu vùng thượng vị. Dược liệu cũng đã được nghiên cứu về flavonoid, hoạt tính chống viêm, kháng khuẩn và ứng dụng trong chế phẩm dành cho viêm loét dạ dày–tá tràng.
Tên bạch liễm trên trang này chỉ chè dây làm trà. Đây là điểm cần hiểu trước khi mua: sản phẩm khác với vị bạch liễm dùng rễ củ trong thuốc Bắc. Công dụng và liều của hai loại không dùng thay cho nhau.

| Thông tin | Sản phẩm |
|---|---|
| Tên hàng | Cây bạch liễm làm trà – chè dây khô |
| Quy cách | Túi 1kg |
| Giá niêm yết | 130.000 đồng/túi 1kg |
| Khuyến mãi | Trang sản phẩm ghi mua 5kg tặng 1; xác nhận đơn vị phần tặng khi chốt đơn |
| Mã sản phẩm | cblbx |
| Đơn vị cung cấp | Búpxanh |
Thông tin giá được ghi nhận ngày 13/10/2026. Khi đặt mua, khách hàng xác nhận số lượng, ưu đãi và tổng tiền trước khi thanh toán. Phí giao hàng theo chính sách và địa chỉ nhận thực tế.

Dược liệu đang được giới thiệu là chè dây, còn gọi trà dây. Tên khoa học thường sử dụng trong tài liệu Việt Nam là Ampelopsis cantoniensis (Hook. et Arn.) Planch., thuộc họ Nho – Vitaceae. Tài liệu phân loại hiện đại còn sử dụng tên Nekemias cantoniensis.
Bộ phận dùng để pha trà thường là lá và cành non đã làm khô. Chuyên luận mang tên Folium Ampelopsis tập trung vào lá; hàng thân lá bán rời cần được mô tả theo dạng thực tế. Sản phẩm trên trang này không được hiểu là rễ củ bạch liễm.
Người mua có thể xem thêm mục chè dây khô để hiểu các dạng dược liệu cùng tên. Khi cần một tỷ lệ lá/cành cụ thể cho đơn thuốc, nên ghi rõ yêu cầu khi đặt hàng.
| Tên gọi | Nhận diện để sử dụng |
|---|---|
| Bạch liễm làm trà trên trang này | Chè dây; dùng lá, cành phù hợp để hãm hoặc nấu nước |
| Bạch liễm trong thuốc Bắc | Thường chỉ Ampelopsis japonica; bộ phận dùng là rễ củ, có hệ công dụng riêng |
| Vine tea từ Nekemias grossedentata | Một loài khác, không tự lấy nghiên cứu của loài này áp dụng cho chè dây Việt Nam |
| Cây khác mang tên dân gian bạch liễm | Cần xác định loài và bộ phận trước khi dùng |
Cùng họ thực vật hoặc cùng tên thương mại chưa đủ để kết luận hai sản phẩm giống nhau. Vì vậy, khi đọc một bài nói về bạch liễm chữa mụn nhọt, trĩ rò hoặc bỏng, cần kiểm tra bài đó đang nói về rễ A. japonica hay chè dây làm trà.
Chè dây là cây leo, có tua cuốn và lá kép. Khi chế biến khô, hàng có thể gồm lá rời, mảnh lá và đoạn cành. Không nên định danh một túi dược liệu chỉ bằng màu nước pha hoặc mùi thơm; những đặc điểm này còn phụ thuộc cách làm khô và bảo quản.
Một đặc điểm thường được tài liệu mô tả là trên lá khô có vết loang nhạt màu, trông giống mốc. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa mọi lớp trắng trên hàng đều bình thường. Quan sát bằng mắt không thay thế được kiểm tra chất lượng khi có dấu hiệu nghi ngờ.
Không nên rửa rồi sao lại dược liệu đã mốc để tiếp tục dùng. Khi bao bì bị rách hoặc hàng ẩm sau vận chuyển, giữ lại thông tin đơn và hình ảnh để trao đổi với Búpxanh.
Lá, cành phù hợp được làm sạch, cắt và phơi hoặc sấy khô. Một số cách dùng dân gian có bước sao qua. Sản phẩm khô nguyên liệu khác với trà túi lọc, trà hòa tan hoặc cao chiết đã chuẩn hóa.
Nếu khách hàng cần hàng sao, cần xác nhận dạng đang cung cấp. Không mặc định túi hàng đã hút chân không, không bổ sung hương liệu hoặc được chế biến bằng một quy trình cụ thể khi nhãn chưa thể hiện điều đó.
Đối với việc sử dụng tại nhà, điểm thiết thực là lấy đúng lượng bằng cân, dùng nước sạch, giữ dụng cụ khô và pha lượng vừa dùng. Hãm quá đặc để “tăng công dụng” có thể làm giảm khả năng dung nạp mà không có căn cứ về lợi ích.
Các tài liệu và nghiên cứu về chè dây đề cập flavonoid, trong đó có myricetin và dihydromyricetin, cùng tannin và những thành phần khác tùy mẫu khảo sát.
Hàm lượng biến đổi theo mẫu, bộ phận và phương pháp phân tích. Không dùng một tỷ lệ công bố trong nghiên cứu để ghi hàm lượng cho túi hàng Búpxanh nếu chưa có kiểm nghiệm tương ứng. Đặc biệt, phần lá và hỗn hợp có nhiều cành không thể mặc định cùng lượng hoạt chất trên mỗi gram.
Khi so sánh sản phẩm, cần phân biệt ba thông tin: trọng lượng dược liệu khô, khối lượng cao chiết và lượng một hoạt chất riêng. Ví dụ, một gram cao có thể được tạo từ nhiều gram nguyên liệu; lượng cao trong nghiên cứu không phải liều trực tiếp của trà khô.
Chè dây có vị ngọt, đắng, tính mát trong mô tả dược liệu cổ truyền. Công năng được một số tài liệu chuyên luận ghi là tiêu viêm chỉ thống, giải độc sinh cơ: hướng sử dụng liên quan giảm viêm, giảm đau và phục hồi tổn thương. Các ghi nhận tập trung vào đau dạ dày–tá tràng; một số chuyên luận còn đề cập viêm đại tràng và chậm liền sẹo.
Với người đọc hiện nay, điều cần hiểu là chè dây có lịch sử dùng trong chăm sóc dạ dày và có nghiên cứu liên quan. Tuy nhiên, đau bụng chưa được chẩn đoán không phải lý do tự kết luận mình bị viêm loét rồi tăng lượng trà.
Đau vùng thượng vị có thể đi cùng nhiều tình trạng khác nhau. Khi dùng dược liệu theo hướng dẫn, nên theo dõi mức độ đau, ăn uống và khả năng dung nạp; nếu triệu chứng kéo dài, cần khám thay vì chỉ tiếp tục pha trà đậm hơn.
Chè dây là nguyên liệu đã được nghiên cứu trong chế phẩm chống loét. Nghiên cứu trên người có ghi nhận kết quả về giảm đau và liền ổ loét, được trình bày riêng ở phần ứng dụng lâm sàng.
Đối với túi chè dây khô này, cách diễn đạt phù hợp là dược liệu được sử dụng trong chăm sóc dạ dày theo kinh nghiệm và hướng dẫn chuyên môn. Hiệu quả của một chế phẩm nghiên cứu không phải lời bảo đảm rằng mọi người uống trà từ hàng khô đều có cùng kết quả.
Muốn xem tác động lên ổ loét cần đánh giá chuyên môn; cảm thấy hết đau chưa tự chứng minh tổn thương đã liền hoàn toàn.
Có công bố khảo sát hoạt tính của chiết xuất chè dây với Helicobacter pylori. Đây là một hướng nghiên cứu liên quan sức khỏe dạ dày, nhưng cần phân biệt ức chế vi khuẩn trong thí nghiệm với tiệt trừ HP ở người.
Khi có kết quả xét nghiệm HP, không lấy việc bớt ợ chua hoặc bớt đau làm bằng chứng HP đã hết. Kế hoạch điều trị và kiểm tra sau điều trị cần theo người đang quản lý bệnh. Người dùng thuốc nên báo rõ việc uống chè dây để được hướng dẫn phù hợp.
Tài liệu dân gian còn ghi nhận chè dây trong một số cách dùng cho cảm mạo, họng khó chịu và đau nhức phong thấp. Các ghi nhận này được trình bày dưới dạng kinh nghiệm, không gộp thành công dụng đã được chứng minh của túi trà bán lẻ.
Những phương sử dụng lá tươi đắp hoặc rễ sắc cũng không đồng nhất với việc hãm thân lá khô. Sản phẩm này được định hướng làm trà; không mặc định phù hợp đắp lên da, vết thương hoặc dùng thay bộ phận rễ.
Hoạt tính chống oxy hóa được khảo sát bằng các phép thử hóa học hoặc sinh học. Kết quả đó không có nghĩa uống trà sẽ “rửa sạch gan”, “thải mọi độc tố” hoặc phòng được ung thư.
Người mua nên lựa chọn theo nhu cầu thực tế và hướng dẫn sử dụng. Những quảng cáo đồng thời nêu chữa dạ dày, gan, gút, tiểu đường và ung thư thường cần xem lại loài, dạng chiết và mức độ bằng chứng.
| Nguồn và bối cảnh | Lượng được ghi nhận | Cách áp dụng |
|---|---|---|
| Bản chuyên luận Chè dây – Folium Ampelopsis được đăng trong mục dược điển | 10–12g/ngày, sắc hoặc hãm | Chuyên luận về lá; không tự coi hỗn hợp nhiều cành tương đương |
| Kinh nghiệm dùng cho đau dạ dày được tài liệu tra cứu ghi lại | 30–50g/ngày, hãm hoặc sắc nhiều lần | Liều kinh nghiệm; chọn theo hướng dẫn cho từng trường hợp |
| Bài phổ biến dược liệu trên Báo Sức khỏe & Đời sống | 10–20g khô trong cách dùng cụ thể; 30g khô trong kinh nghiệm cảm mạo, họng sưng đau | Các tình huống khác nhau, không cộng liều |
Các khoảng liều khác nhau không tạo thành một quy tắc “bệnh nhẹ dùng ít, bệnh nặng dùng nhiều”. Bài này không khuyến nghị tự tăng lên 100g/ngày. Với người bệnh, người có bệnh nền hoặc cần dùng theo đợt, lượng dùng nên được người có chuyên môn lựa chọn.
Lấy lượng đã được hướng dẫn bằng cân gram. Kiểm tra dược liệu, dùng ấm sạch và nước vừa đun sôi; đậy kín trong quá trình hãm, sau đó rót ra dùng khi còn ấm. Nếu nhãn hàng hoặc người hướng dẫn yêu cầu làm sạch trước khi pha, thực hiện đúng yêu cầu đó.
Lượng nước và thời gian hãm theo hướng dẫn của hàng thực tế, vì độ vụn của lá và lượng cành ảnh hưởng cách pha. Không tự áp một công thức trà túi lọc cho túi thân lá 1kg. Bài này không đặt một tỷ lệ nước/gram mang danh “liều điều trị” khi chưa có căn cứ cho chính dạng hàng.
Khách hàng có thể tham khảo thêm bài cách sử dụng chè dây, đồng thời ưu tiên hướng dẫn trên nhãn và hướng dẫn riêng khi dùng trong đơn thuốc.
Nếu dùng dạng sắc, cho dược liệu vào ấm cùng lượng nước theo đơn. Khi đơn có nhiều vị, cần tuân thủ cả phương pháp sắc và thứ tự cho từng vị. Không mặc định càng sắc cạn càng tốt hoặc đun nhiều lần đến khi nước không còn màu.
Chia lượng dùng theo chỉ dẫn, không uống toàn bộ lượng của một ngày trong một lần. Trà không nên quá nóng vì có thể gây khó chịu đường miệng và họng.
Thời điểm cần xét khả năng dung nạp và thuốc đang dùng. Không bắt mọi người uống lúc bụng đói; nếu uống làm khó chịu, nên dừng và hỏi lại người hướng dẫn. Việc dùng trước ăn trong một cách dùng có nguồn không phải nguyên tắc chung cho mọi người.
Tài liệu kinh nghiệm có ghi đợt 15–30 ngày. Đây không phải lời bảo đảm sau một đợt sẽ khỏi bệnh, cũng không phải lý do dùng nối tiếp nhiều tháng. Cần đánh giá lại nếu triệu chứng không cải thiện hoặc xuất hiện dấu hiệu bất thường.
Pha vừa lượng dùng trong ngày, giữ trong vật chứa sạch và có nắp. Tránh để lâu ở nhiệt độ phòng. Nếu chưa dùng ngay, làm nguội phù hợp rồi bảo quản lạnh; không dùng nếu có mùi khác, lên men hoặc nghi ngờ hỏng. Không dùng nước trà cũ để pha tiếp mẻ mới.
Tài liệu tra cứu ghi 30–50g dược liệu/ngày, hãm hoặc sắc, chia nhiều lần; đợt sử dụng 15–30 ngày. Đây là cách dùng kinh nghiệm, không phải liều cao chiết và không phải đơn chung cho mọi người đau thượng vị.
Khi áp dụng, phải xác định đúng chè dây. Không thay bằng rễ bạch liễm A. japonica hoặc một loại “vine tea” khác.
Báo Sức khỏe & Đời sống ghi cách dùng chè dây khô 30g, sắc nước uống trong ngày cho tình huống này. Đây là thông tin tham khảo. Nếu có sốt cao, khó nuốt, khó thở hoặc tình trạng kéo dài, cần khám để xác định nguyên nhân.
Một số tài liệu mô tả lá tươi giã và dùng ấm tại chỗ đau. Không dùng liều uống để quy thành lượng đắp, và không mặc định hàng khô làm trà phù hợp dùng ngoài. Tránh gây bỏng hoặc đắp vào da tổn thương.
Nghiên cứu năm 2022 về viên nang Dạ dày Tuệ Tĩnh khảo sát chế phẩm phối hợp có chè dây với lá khôi, chỉ thực và các thành phần khác. Đây là công thức cao chiết được nghiên cứu trên động vật, không phải hướng dẫn ghép nguyên liệu khô tại nhà.
Các dược liệu như lá khôi và dạ cẩm có nội dung sử dụng riêng. Việc cùng được nhắc đến trong chăm sóc dạ dày không đủ để tự xây dựng một bài thuốc phối hợp theo tỷ lệ tùy ý.
Tài liệu còn có ghi nhận các phương dân gian về sốt rét hoặc ngộ độc. Không khuyến nghị tự áp dụng các phương này từ túi chè dây làm trà. Người nghi sốt rét hoặc ngộ độc cần được đánh giá y tế; không trì hoãn bằng cách thử sắc cây thuốc.
Thu và cộng sự công bố năm 2015 nghiên cứu các hợp chất tách từ lá Ampelopsis cantoniensis. Một số chất làm giảm sự tạo nitric oxide và biểu hiện iNOS trong tế bào RAW264.7 được kích thích bằng LPS.
Kết quả giúp tìm hiểu hoạt tính sinh học của lá. Đây là nghiên cứu tế bào, không phải thử nghiệm uống trà ở người bị viêm dạ dày hoặc đau khớp.
Công bố năm 2023 khảo sát chiết xuất A. cantoniensis với tụ cầu vàng kháng methicillin bằng phương pháp trong phòng thí nghiệm và mô phỏng. Những nghiên cứu chiết xuất với HP cũng đã được báo cáo.
Hoạt tính kháng khuẩn không biến trà chè dây thành thuốc kháng sinh. Loài vi khuẩn, nồng độ chiết xuất và môi trường thử khác với tình trạng nhiễm khuẩn trong cơ thể người. Không dùng trà để tự điều trị viêm phổi, nhiễm trùng da hoặc nhiễm trùng tiết niệu.
Nghiên cứu của Phạm Quốc Sự và cộng sự năm 2022 dùng mô hình gây loét bằng cysteamin trên chuột. Chế phẩm Dạ dày Tuệ Tĩnh có xu hướng giảm tổn thương đại thể và vi thể so với nhóm mô hình.
Kết quả thuộc chế phẩm phối hợp và mô hình động vật. Không tách toàn bộ hiệu quả cho riêng chè dây hoặc lấy lượng viên nang làm lượng trà khô.
Các công bố về hợp chất tinh khiết, chống oxy hóa hoặc tế bào ung thư có thể là nền tảng nghiên cứu tiếp. Bài sản phẩm không dùng những kết quả này để quảng cáo trà có tác dụng điều trị ung thư, viêm gan, gút hoặc tiểu đường.
Đặc biệt, nghiên cứu trên người với Ampelopsis grossedentata không tự chứng minh công dụng của A. cantoniensis. Khi một tài liệu dùng tên chung “vine tea”, phải đọc tên khoa học trước khi áp dụng.
Công bố của Vũ Nam và Nguyễn Khánh Trạch trong Tạp chí Nghiên cứu Y học năm 2008 khảo sát 80 người bệnh, so sánh nhóm chè dây với nhóm Alusi. Bản tóm tắt được WPRIM lập chỉ mục mô tả phương pháp mù đôi.
Thời gian giảm đau trung bình được báo cáo là 8,9 ngày ở nhóm chè dây và 17,35 ngày ở nhóm đối chứng; tỷ lệ liền sẹo ổ loét là 79,55% và 47,22%. Các số liệu là kết quả nghiên cứu, không phải tỷ lệ hiệu quả cam kết cho khách hàng mua túi trà này.
Một công bố khác năm 2008 của Vũ Nam và Trần Văn Hợp mô tả nghiên cứu mở ở 43 người, dùng chế phẩm cao khô trong 6 tuần, có đánh giá sinh thiết trước và sau. Báo cáo ghi nhận cải thiện một số chỉ tiêu viêm và tình trạng HP.
Dạng sử dụng là cao khô, khác nguyên liệu pha trà. Bản tóm tắt có điểm không nhất quán giữa số người và tỷ lệ phần trăm HP, nên bài này không dùng con số đó làm tuyên bố quảng cáo. Cần toàn văn để kiểm tra thêm cách tính.
Những nghiên cứu trên người cho thấy chè dây có cơ sở nghiên cứu về dạ dày, ngoài kinh nghiệm dân gian. Tuy nhiên, đối chứng và chế phẩm thuộc bối cảnh nghiên cứu cũ, chưa đủ để kết luận túi trà bán lẻ tương đương một phác đồ điều trị hiện nay.
Trong sử dụng thực tế, cần xem chẩn đoán, dạng sản phẩm, lượng dùng và đánh giá sau điều trị. Người có HP cần theo dõi xét nghiệm; người có ổ loét cần được đánh giá diễn biến chuyên môn.
| Mức bằng chứng | Nội dung thuộc mức này |
|---|---|
| Kinh nghiệm dân gian | Hãm/sắc chè dây trong chăm sóc dạ dày; một số cách dùng khác |
| Tiền lâm sàng | Hợp chất, chiết xuất trên tế bào hoặc động vật |
| Nghiên cứu trên người | Công bố về chế phẩm chè dây trong loét dạ dày–tá tràng |
| Sản phẩm khô trên trang này | Không mặc định đã được thử nghiệm trực tiếp với cùng kết quả |
Người trưởng thành muốn sử dụng trà thảo dược đúng loại hoặc đã được hướng dẫn dùng chè dây có thể cân nhắc sản phẩm. Người đang chăm sóc tình trạng dạ dày nên trao đổi với người điều trị để xác định lượng, thời điểm và thời gian dùng.
Thai phụ, người cho con bú và trẻ nhỏ không tự áp dụng liều người lớn. Người suy gan, suy thận, bệnh tim hoặc phải hạn chế dịch cần hỏi người có chuyên môn trước khi uống trà theo lượng lớn.
Người đang dùng thuốc điều trị dạ dày, kháng sinh, thuốc chống đông hoặc nhiều thuốc khác cần cung cấp danh sách sử dụng. Không tự đặt quy tắc cách thuốc một số giờ rồi cho rằng mọi tương tác đã được loại bỏ.
Thông tin tương tác lâm sàng riêng cho trà chè dây còn hạn chế. Chưa ghi nhận một vấn đề trong nghiên cứu nhỏ không có nghĩa sản phẩm không thể gây phản ứng ở bất kỳ ai.
Nếu chóng mặt, buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy hoặc ngứa sau uống, ngừng và hỏi lại người hướng dẫn. Không gọi mọi khó chịu là “say trà” rồi cố uống tiếp. Khó thở, sưng môi hoặc lưỡi cần cấp cứu.
Đau bụng dữ dội, nôn ra máu, phân đen bất thường, sụt cân, nuốt khó hoặc nôn kéo dài cần được đánh giá sớm. Không tăng trà để che lấp triệu chứng. Chăm sóc dạ dày bằng dược liệu nên đi cùng ăn uống phù hợp và quản lý nguyên nhân đã xác định.
Để nơi khô, thoáng, tránh nắng và nguồn hơi nước. Sau mở túi, đóng kín; có thể chia lượng 1kg thành các hộp nhỏ sạch và khô để giảm số lần mở toàn bộ hàng. Không cho muỗng ướt hoặc phần đã tráng nước trở lại bao.
Hạn sử dụng theo nhãn thực tế, không tự tính từ ngày mua. Loại bỏ dược liệu bị mốc, mọt, đổi mùi hoặc ẩm bất thường. Không phơi lại hàng hỏng để sử dụng.

Búpxanh có tư cách pháp nhân chịu trách nhiệm về nguồn dược liệu và xuất xứ, có hóa đơn đầu vào và đầu ra hợp pháp. Khách hàng đặt đúng tên bạch liễm làm trà – chè dây khô, quy cách 1kg và số lượng cần mua để tránh nhầm với rễ bạch liễm.
Có thể đặt tại trang sản phẩm hoặc xem hướng dẫn đặt hàng tại Búpxanh. Khách hàng mua nhiều có thể tham khảo thông tin mua chè dây số lượng lớn.
Giá, phần hàng tặng, phí giao nhận và điều kiện đổi trả được xác nhận khi chốt đơn. Trước khi dùng với mục tiêu điều trị, nên tham vấn người có chuyên môn (bác sĩ YHCT/đông y).
Có. Bài sản phẩm hiện tại mô tả loại dùng làm trà, tức chè dây; không phải rễ củ bạch liễm trong thuốc Bắc.
Trong ngữ cảnh sản phẩm này, hai tên chỉ cùng loại cây. Xem thêm bài trà dây và chè dây có phải một loại không. Với sản phẩm nhập khẩu mang tên “vine tea”, cần xem tên khoa học vì có thể là loài khác.
Không thể kết luận từ việc triệu chứng giảm. Cần xét nghiệm và theo hướng dẫn điều trị; kết quả kháng khuẩn trong nghiên cứu không phải cam kết tiệt trừ HP của hàng trà khô.
Nguồn có thể nói về lá, thân lá, cao khô hoặc cách dùng kinh nghiệm khác nhau. Cần xác định dạng sản phẩm và bối cảnh trước khi chọn liều.
Không tự tăng theo mức độ đau. Đau nặng cần khám; bài này không hướng dẫn liều 100g/ngày.
Tài liệu có mô tả vết loang trên lá khô, nhưng không đủ để kết luận mọi mảng trắng đều an toàn. Nếu có mùi mốc, ẩm hoặc dấu hiệu bất thường, không dùng và liên hệ nơi bán.
Không tự dùng kéo dài với mục tiêu chữa bệnh. Cần đánh giá lại tình trạng và khả năng dung nạp theo hướng dẫn riêng.
Trang niêm yết 130.000 đồng/túi 1kg khi cập nhật. Chương trình mua 5kg tặng 1 cần xác nhận rõ phần tặng khi đặt.
Kiểm duyệt chuyên môn: Trần Văn Bằng – Y sĩ Y học cổ truyền.
Người gửi / điện thoại
ĐC: E67 Đường Phú Thuân , Phường Phú Thuận, Quận 7, Hồ Chí Minh
GPKD: 41G8026476 ngày 30/07/2015 - MST: 037085015723
Email:duoclieubupxanh@gmail.com
Website: https://trungtamduoclieu.vn