Giá: 150.000 VND
Đánh giá 5 lượt đánh giá
Hy thiêm khô, còn gọi cỏ đĩ hoặc chó đẻ hoa vàng, là dược liệu dùng phần thân lá, gắn với công năng trừ phong thấp trong y học cổ truyền. Búpxanh giới thiệu cách nhận biết, công dụng, liều tham khảo, bài thuốc có nguồn và nghiên cứu liên quan, giúp người mua chọn nguyên liệu phù hợp, hiểu cách chế biến trước khi sử dụng theo hướng dẫn.
Mua 5kg hy thiêm tặng 1kg
Hy thiêm khô là dược liệu từ phần trên mặt đất của cây hy thiêm, thường được tìm mua để chuẩn bị theo các bài thuốc y học cổ truyền về phong thấp, đau mỏi lưng gối và tê buốt tay chân. Chọn đúng thân lá, đúng cây và đúng dạng chế biến là bước quan trọng trước khi đối chiếu cách dùng.
Búpxanh giới thiệu sản phẩm dạng khô cùng thông tin nhận biết, bài thuốc đã được ghi nhận và những nghiên cứu liên quan, giúp khách hàng thuận tiện trao đổi, lựa chọn nguyên liệu theo nhu cầu.

| Nội dung | Thông tin đang niêm yết |
|---|---|
| Tên sản phẩm | Hy thiêm khô – Hy thiêm thảo |
| Tên gọi khác | Cỏ đĩ, chó đẻ hoa vàng |
| Mã sản phẩm | chtkbx |
| Quy cách | Túi 1 kg |
| Giá tham khảo | 150.000 đồng/túi |
| Dạng nguyên liệu | Thân lá khô; tình trạng cắt và bào chế theo lô |
| Bộ phận dùng theo chuyên luận | Phần trên mặt đất, bỏ gốc rễ |
| Đơn vị cung cấp | Búpxanh |
| Xuất xứ | Theo thông tin hàng thực tế |
Trang có ưu đãi mua 5 kg tặng 1 kg. Khách hàng cần xác nhận điều kiện áp dụng, tình trạng có hàng và chi phí vận chuyển khi đặt. Thông tin giá được đối chiếu ngày 29/10/2026.
Nếu cần hy thiêm đã chế theo đơn, nên ghi rõ ngay khi hỏi hàng. Dược liệu chỉ phơi khô và dược liệu đã trải qua quy trình bào chế là hai tình trạng cần phân biệt khi giao nhận.
Tên được Plants of the World Online của Kew chấp nhận là Sigesbeckia orientalis L., thuộc họ Asteraceae – họ Cúc. Trong sách dược liệu và nhiều nghiên cứu, cách viết Siegesbeckia orientalis L. vẫn rất phổ biến.
Tên vị thuốc thường dùng là hy thiêm, hy thiêm thảo; tên dược liệu là Herba Siegesbeckiae. Khi tìm tài liệu nên đối chiếu cả hai cách viết tên chi.
Hy thiêm còn được gọi là cỏ đĩ. Thông tin tại trang cỏ đĩ khô có thể giúp đối chiếu cách gọi thương mại.
Tên khác nhau không tạo ra hai dược liệu có tác dụng riêng nếu cùng là S. orientalis. Những khác biệt cần xem khi mua là bộ phận, cách thu hái, mức làm sạch và dạng đã chế hay chưa.
Chuyên luận xác định phần trên mặt đất đã phơi hoặc sấy khô. Phần này chủ yếu gồm thân, cành và lá; gốc, rễ được loại.
Cách ghi “toàn cây” trong một số tài liệu cần đọc theo bối cảnh. Khi mua theo chuyên luận, không hiểu đó là toàn bộ cây nhổ lên còn cả rễ và đất.
Hy thiêm là cây thân thảo sống hằng năm, có cành và lông trên thân. Lá mọc đối, cuống ngắn, mép răng cưa; phiến có thể gợi hình tam giác hoặc quả trám. Cụm hoa nhỏ màu vàng, các lá bắc mang lông tuyến có tính dính.
Đặc điểm dính ở phần hoa là một dấu hiệu hỗ trợ nhận diện. Tuy nhiên, cần quan sát cả thân, cách mọc lá, lá bắc và hoa, không xác định cây chỉ bằng một dấu hiệu riêng.
Dạng khô gồm đoạn thân cành, lá nhăn hoặc vụn và đôi khi còn cụm hoa. Thân có rãnh và lông ngắn; lá chuyển màu theo thời điểm thu hái, phương pháp làm khô và bảo quản.
Một túi chủ yếu là thân già, rất ít lá cần được mô tả rõ. Ảnh sản phẩm nên cho thấy thành phần thực tế, thay vì chỉ dùng ảnh cây xanh ngoài tự nhiên.
Tên “cứt lợn” có trong một số ghi chép về hy thiêm, đồng thời được dùng phổ biến cho Ageratum conyzoides, còn gọi cỏ hôi. Vì vậy, vấn đề là trùng tên dân gian, không phải cứ gặp tên đó đều cùng một cây.
“Chó đẻ” cũng có thể chỉ các loài Phyllanthus. Cụm “chó đẻ hoa vàng” cần được đối chiếu đúng S. orientalis trong bài này.
Màu hoa có thể hỗ trợ phân biệt, nhưng không đủ thay thế định danh. Với dược liệu đã nghiền, việc nhận biết bằng mắt càng hạn chế.
Hy thiêm được ghi nhận tại nhiều khu vực châu Á và các vùng khác. Ở Việt Nam, cây mọc tự nhiên tại nhiều địa phương và có thể được phát triển thành vùng nguyên liệu.
Khâu thu hái nên chọn cây đúng loài, có phần thân lá phù hợp; loại cây lẫn, lá hỏng, gốc và rễ. Sau khi làm sạch, nguyên liệu được phơi hoặc sấy, rồi đóng gói khi đã khô.
Các bước kiểm soát cần chú ý gồm nhận diện trước khi cắt, tránh lẫn đất, giữ vệ sinh khu vực làm khô và hạn chế nguyên liệu hút ẩm trở lại.
Trong thuật ngữ bào chế, “sống” có thể chỉ dược liệu chưa qua một phương pháp chế biến chuyên biệt, không nhất thiết có nghĩa cây còn tươi.
Tài liệu cổ có ghi tẩm mật, tửu rồi đồ và phơi nhiều lần. Đây là phương pháp bào chế có điều kiện cụ thể; không thể xem việc sao nóng, trộn mật hoặc phun tửu bất kỳ là quy trình tương đương.
Khi đơn ghi một dạng bào chế, nên chuẩn bị đúng dạng đó. Các nghiên cứu về ảnh hưởng chế biến cũng cần được đọc theo quy trình mẫu, không áp dụng chung cho mọi cách làm tại nhà.

Hy thiêm chứa nhiều nhóm chất được quan tâm như diterpenoid, sesquiterpenoid, flavonoid và acid phenolic. Những tên thường xuất hiện trong tài liệu gồm kirenol, darutoside, darutigenol và các dẫn xuất khác.
Một nghiên cứu năm 2022 tại Việt Nam xây dựng phương pháp HPLC định lượng đồng thời ba chất kirenol, darutoside và darutigenol. Kết quả trên các mẫu cho thấy hàm lượng có thể biến động theo nguồn nguyên liệu.
Điều này có ý nghĩa thực tế: cùng tên cây chưa đủ để suy ra mọi túi hàng có hàm lượng giống nhau. Số liệu của mẫu nghiên cứu chỉ dùng làm căn cứ tham khảo cho xây dựng tiêu chuẩn, không trở thành hàm lượng công bố của Búpxanh khi chưa có kiểm nghiệm tương ứng.
| Đối tượng | Đặc điểm khi đọc nghiên cứu |
|---|---|
| Thân lá khô | Hỗn hợp tự nhiên nhiều thành phần |
| Nước sắc | Chỉ chiết được một phần các chất theo điều kiện chuẩn bị |
| Cao ethanol | Khác dung môi và thành phần so với nước sắc |
| Phân đoạn giàu phenolic | Đã được làm giàu theo quy trình nghiên cứu |
| Kirenol hoặc chất tinh khiết | Không tương đương cùng số gam dược liệu |
| Viên, cao chuẩn hóa | Cần đối chiếu tiêu chuẩn riêng của chế phẩm |
Những cách gọi chất đắng trong sách cũ phản ánh giai đoạn nghiên cứu trước. Không nên dùng một tên hoạt chất chưa được chuẩn hóa để giải thích chắc chắn tất cả công dụng.
Chuyên luận Hy thiêm ghi vị đắng, tính hàn, quy vào Can, Thận, với công năng trừ phong thấp, thanh nhiệt, giải độc.
Chủ trị được nêu gồm đau lưng, gối, xương khớp, tê buốt chân tay và mụn nhọt. Một số nguồn mô tả thêm lợi gân cốt, hoạt huyết và các cách phối ngũ theo kinh nghiệm.
Các thuật ngữ cổ truyền cần được hiểu theo hệ thống lý luận và biện chứng. “Trừ phong thấp” không xác định mọi nguyên nhân đau khớp đều phù hợp; “giải độc” cũng không có nghĩa thay thế chức năng đào thải của cơ thể hay điều trị mọi tình trạng nhiễm độc.
Đây là nhóm sử dụng nổi bật của hy thiêm trong tài liệu dược liệu Việt Nam. Vị thuốc xuất hiện dưới dạng sắc, bột, hoàn hoặc trong các bài phối hợp.
Đau mỏi do viêm khớp, thoái hóa, chấn thương và chèn ép thần kinh có cơ chế khác nhau. Chọn dược liệu cần gắn với tình trạng thực tế, không chỉ dựa vào triệu chứng “đau xương khớp”.
Nghiên cứu hiện đại đã khảo sát S. orientalis về viêm, đau và acid uric trong mô hình thực nghiệm. Vì vậy, cách nói “chưa có nghiên cứu nào về gout” không phản ánh đầy đủ tài liệu hiện có.
Tuy nhiên, những công trình trực tiếp được đối chiếu chủ yếu ở mức tế bào, enzym hoặc động vật. Chưa đủ để cam kết hy thiêm khô sắc uống giúp đạt mục tiêu acid uric, hết cơn gout hoặc ngăn biến chứng ở người.
Mụn nhọt có trong chủ trị cổ truyền. Các cách dùng ngoài khác xuất hiện trong tài liệu lưu truyền, nhưng cần đánh giá dạng nguyên liệu và mức độ sạch.
Một phép thử kháng viêm không chứng minh mọi chế phẩm dùng ngoài đều hiệu quả. Nguyên liệu thô cũng khác một sản phẩm đã được thiết kế cho da.
Có nguồn báo y tế giới thiệu hy thiêm trong các công thức liên quan đến huyết áp, cảm mạo hoặc khó ngủ. Những công thức đó được trình bày ở phần bài thuốc để giữ rõ xuất xứ.
Không gán toàn bộ tác dụng của bài nhiều vị cho riêng hy thiêm. Công thức kinh nghiệm không tự trở thành bằng chứng của một thuốc đã được thử nghiệm lâm sàng.
Các tài liệu cổ còn nhắc tê bại, bán thân bất toại, mất tiếng hoặc dùng khi ong đốt, rắn cắn. Đây là thông tin lịch sử sử dụng, không phải cơ sở để hướng dẫn tự xử trí cấp cứu.
Với giãn tĩnh mạch, chưa xác minh được bằng chứng phù hợp để công bố nước sắc hy thiêm khô điều trị bệnh. Tài liệu quảng cáo một kem đa thành phần không đủ chứng minh điều đó.

Công trình năm 2014 khảo sát cao ethanol S. orientalis trên các hệ tế bào và động vật gây viêm.
Nghiên cứu năm 2020 tiếp tục đánh giá mô hình viêm khớp do collagen ở chuột và tế bào hoạt dịch. Kết quả gợi ý tác động liên quan tăng sinh màng hoạt dịch, các chất trung gian viêm và đường tín hiệu MAPK, NF-κB, AP-1.
Đây là cơ sở nghiên cứu cơ chế. Dùng tế bào có nguồn gốc người không đồng nghĩa đã thử điều trị trên người bệnh.
Công bố năm 2017 sử dụng phần trên mặt đất S. orientalis thu tại Việt Nam để chuẩn bị cao và phân đoạn. Các mô hình khảo sát gồm tăng acid uric, phù viêm và viêm màng hoạt dịch do urat ở động vật.
Kết quả tạo cơ sở tìm hiểu đồng thời hướng tác động lên acid uric, viêm và đau. Liều của cao hoặc phân đoạn không được quy đổi trực tiếp thành liều dược liệu khô.
Năm 2021, nghiên cứu Phytochemistry công bố các sesquiterpene và dẫn xuất benzoate từ phần trên mặt đất, khảo sát hoạt tính trên xanthine oxidase.
Ức chế enzym trong thí nghiệm chưa chứng minh uống nước sắc đạt được nồng độ tương ứng hoặc tạo ra mức giảm acid uric có ý nghĩa lâm sàng.
Công trình VNU Journal of Science năm 2022 tập trung vào phương pháp phân tích và khác biệt hàm lượng giữa các mẫu. Đây là ứng dụng hữu ích cho nhận diện, lựa chọn chất chỉ dấu và nâng cấp tiêu chuẩn nguyên liệu.
Nghiên cứu hóa học không phải thử nghiệm điều trị gout hoặc đau khớp.
Một công trình năm 2025 khảo sát cao S. orientalis trong mô hình thiếu máu não ở chuột, tập trung vào phản ứng viêm của vi thần kinh đệm.
Đây là dữ liệu tiền lâm sàng, chưa xác lập hiệu quả điều trị đột quỵ hoặc phục hồi liệt ở người.
Nghiên cứu năm 2021 ghi nhận vấn đề liên quan độc tính phổi ở chuột trong điều kiện dùng kéo dài và khảo sát tác động của chế biến với tửu.
Công bố năm 2024 dùng phân tích đơn tế bào để tìm hiểu thay đổi miễn dịch ở phổi. Các công trình này bổ sung thông tin cần thiết khi đánh giá liều, thời gian dùng và dạng chế biến.
Không thể từ dữ liệu động vật xác định tỷ lệ biến cố ở người; cũng không có căn cứ coi dạng đã chế là an toàn tuyệt đối.
Nhóm Herba Siegesbeckiae trong tài liệu nước ngoài có thể gồm S. orientalis, S. pubescens và S. glabrescens. Nghiên cứu miếng dán chứa cao giàu kirenol, chẳng hạn, sử dụng S. pubescens.
Bài sản phẩm ưu tiên dữ liệu đúng S. orientalis. Không lấy kết quả của loài khác, chất tinh khiết hoặc một công thức nhiều vị để cam kết cho túi thân lá khô.
Có báo cáo và các bài tổng hợp liên quan chế phẩm chứa nhóm hy thiêm trong bệnh cơ xương khớp. Với nguồn đã đối chiếu, chưa đủ dữ liệu phù hợp để khẳng định hiệu quả của hy thiêm khô đơn vị, đúng loài, theo cách sắc tại nhà.
Vì vậy, không công bố tỷ lệ đáp ứng, mức hạ acid uric hoặc thời điểm giảm đau cố định. Các bài thuốc dưới đây được giữ ở mức công thức đã được giới thiệu hoặc lưu truyền.
| Hướng ứng dụng | Bằng chứng chính trong bài | Phạm vi |
|---|---|---|
| Phong thấp, đau mỏi | Chuyên luận, sử dụng cổ truyền | Theo biện chứng và đúng bộ phận |
| Viêm khớp | Động vật, tế bào | Tiền lâm sàng |
| Gout, acid uric | Cao, phân đoạn, enzym, động vật | Chưa xác lập hiệu quả của túi nguyên liệu |
| Kiểm soát chất lượng | HPLC, hóa thực vật | Theo mẫu và lô |
| Bảo vệ thần kinh | Chuột | Hướng nghiên cứu |
| An toàn kéo dài | Mô hình chuột | Cần đánh giá thêm trên người |
Danh mục là những nguồn trực tiếp liên quan đã đối chiếu, chưa phải tổng quan hệ thống thu thập mọi công bố trên mọi nền tảng.
Hy thiêm phù hợp để người trưởng thành tìm hiểu khi đã có hướng dẫn sử dụng dược liệu hoặc cần chuẩn bị nguyên liệu theo đơn y học cổ truyền.
Người đang theo dõi gout, viêm khớp hoặc dùng nhiều thuốc nên chuẩn bị thông tin chẩn đoán, xét nghiệm và thuốc hiện tại khi trao đổi với người có chuyên môn. Mục tiêu dùng dược liệu cần rõ ràng để có thời điểm đánh giá lại.
Người mua cho nghiên cứu cần xác nhận loài, bộ phận, dạng chế biến và yêu cầu chất lượng của mẫu. Các trường hợp cần thận trọng được tập hợp trong mục cuối bài.
Chuyên luận Dược điển Việt Nam V ghi 9–12 g/ngày, dạng thuốc sắc, đối với phần trên mặt đất khô.
Tài liệu Đỗ Tất Lợi ghi 6–12 g/ngày, có thể tới 16 g trong phạm vi cách dùng nêu trong sách. Những mức khác nhau cần giữ rõ nguồn, không lấy mức cao nhất làm liều dùng chung.
| Dạng nguyên liệu | Cách đối chiếu |
|---|---|
| Thân lá khô thông thường | Liều chuyên luận và đơn |
| Hy thiêm chế | Đúng phương pháp bào chế được ghi |
| Bột phối hợp | Khối lượng hỗn hợp khác lượng riêng hy thiêm |
| Hoàn mật | Khối lượng gồm cả dược liệu và tá dược |
| Cao chiết | Cần biết tỷ lệ chiết, dung môi, tiêu chuẩn |
Các liều 20–30 g hoặc cao hơn có thể xuất hiện trong bài kinh nghiệm, nhưng không thay thế mốc của chuyên luận. Mức dùng phải được đọc theo công thức, dạng bào chế và từng người.

Các công thức sau dùng để đối chiếu tài liệu, không phải đơn kê sẵn cho mọi người. Thông số được giữ theo nguồn; phần chưa rõ không được tự bổ sung.
Cơ sở: Chuyên luận Hy thiêm.
Dược liệu: Phần trên mặt đất khô, lượng 9–12 g/ngày hoặc theo đơn.
Dạng dùng: Thuốc sắc. Chuyên luận không ấn định đồng thời lượng nước, thể tích còn lại, số lần uống và liệu trình cho mọi trường hợp.
Nguồn: Lương y Hữu Đức, Báo Sức khỏe và Đời sống.
Mẻ bột 100 g: Hy thiêm 50 g, ngưu tất 20 g, thổ phục linh 20 g, lá lốt 10 g.
Nguồn ghi: Sao vàng, tán bột; mỗi lần 10 g, ngày 3 lần, đợt 15 ngày.
Đây là liều hỗn hợp, không phải 50 g hy thiêm mỗi ngày. Dạng bột và lượng hy thiêm thực dùng khác thuốc sắc độc vị; thời gian trong bài báo không trở thành liệu trình mặc định khi chưa đánh giá người dùng.
Nguồn: Cùng bài của Lương y Hữu Đức.
Thành phần và cách ghi: Hy thiêm 12 g, tía tô 12 g, hành 8 g; sắc 550 ml còn 250 ml, chia hai lần/ngày, dùng 5 ngày.
Nguồn chưa chuẩn hóa đầy đủ trạng thái tươi hoặc khô của mọi vị. Cần xác định chi tiết này trước khi chuẩn bị; không tự áp dụng cùng khối lượng khi đổi dạng.
Nguồn: Cùng bài báo.
Thành phần: Hy thiêm 8 g; ngưu tất, thảo quyết minh, hoàng cầm, trạch tả, mỗi vị 6 g; chi tử, long đởm thảo, mỗi vị 4 g.
Nguồn ghi: Sắc 700 ml còn 300 ml; chia hai lần/ngày, đợt 10 ngày.
Công thức nhiều vị chưa được đồng nhất với một thử nghiệm chứng minh hiệu quả của riêng hy thiêm. Liều và thời gian là thông tin xuất xứ, không thay thế đánh giá huyết áp hoặc thuốc đang dùng.
Nguồn ghi: Hy thiêm và hoa hòe, mỗi vị 20 g; sắc 700 ml còn 500 ml, chia ba lần/ngày, được giới thiệu trong bối cảnh khó ngủ.
Lượng hy thiêm cao hơn mốc chuyên luận. Công thức này được lưu để đối chiếu, không lựa chọn làm cách dùng chung; chưa xác lập hiệu quả điều trị mất ngủ.
Báo Nghệ An năm 2023 giới thiệu công thức hy thiêm 12 g, dạ giao đằng 20 g, kim ngân đằng 20 g, ngưu tất 20 g; sắc một thang/ngày, chia 2–3 lần, trong bối cảnh đau khớp và tê mỏi.
Nguồn chưa nêu lượng nước hoặc liệu trình cho công thức này. Kim ngân đằng là bộ phận dây, không mặc định thay bằng hoa kim ngân.
Một số tài liệu có hy thiêm tẩm mật, tửu, đồ phơi nhiều lần rồi làm hoàn. Bản giới thiệu có thể thiếu tỷ lệ tá dược hoặc tiêu chuẩn kết thúc; chưa đủ để tự dựng một quy trình chuẩn.
Các bài dùng dịch tươi, máu mào gà, gây nôn hoặc phối vị có nguy cơ riêng chỉ được lưu ở mức tư liệu. Công thức có tên cổ không rõ hoặc dùng đơn vị chưa chuẩn cần tra bản gốc trước khi chuyển sang gam.
Kiểm tra nguyên liệu đúng thân lá, tình trạng bào chế, độ khô và tạp chất. Cân bằng gam, không ước lượng bằng nắm nếu hướng dẫn đã định lượng.
Khi sắc theo bài, giữ đúng số vị và dạng chế biến; lượng nước, thể tích sau sắc phải phân biệt với tổng lượng nước uống hằng ngày.
Có thể tham khảo ấm điện sắc thuốc khi cần dụng cụ phù hợp. Chế độ máy cần theo đơn, không tự quyết định được liều và thời gian sử dụng.
Với hoàn hoặc cao, đọc lượng dược liệu thực và tiêu chuẩn chế phẩm. Không đổi liều bằng cách coi một gam cao bằng một gam thân lá.
Giữ sản phẩm trong bao bì kín, nơi khô thoáng, tránh hơi nước và nắng trực tiếp. Lấy bằng dụng cụ khô rồi đóng lại sau mỗi lần mở.
Khi nhận hàng, nên đối chiếu đúng tên, bộ phận, khối lượng, tình trạng cắt và tỷ lệ tạp nhìn thấy. Lá, cành non và thân già cần được mô tả đúng với hàng giao.
Không xem màu xanh hoặc cụm “tự nhiên” là bằng chứng đã đạt tiêu chuẩn. Các công bố hữu cơ, GACP-WHO hay hàm lượng hoạt chất cần có hồ sơ tương ứng, không suy từ ảnh.
Trong phạm vi bài này, hai tên cùng chỉ S. orientalis. Tuy nhiên, tên dân gian khác vùng vẫn cần được kiểm tra lại.
Chuyên luận dùng phần trên mặt đất, bỏ gốc rễ. Đặt theo đơn tương ứng nên chọn đúng phần thân lá.
Có nghiên cứu tiền lâm sàng liên quan acid uric và xanthine oxidase. Chưa đủ chứng minh nước sắc sản phẩm đạt hiệu quả như cao hoặc phân đoạn nghiên cứu ở người.
Đó không phải liều chung của chuyên luận. Mốc 9–12 g/ngày cần được ưu tiên khi đối chiếu; mức khác phải có hướng dẫn theo công thức và tình trạng cụ thể.
Chưa có thời gian đáp ứng chuẩn cho sản phẩm nguyên liệu. Các đợt dùng trong bài báo không phải lời hứa hiệu quả cho mọi người.
Không. Ageratum conyzoides là cây khác. Tên “cứt lợn” bị dùng trùng nên dễ gây hiểu nhầm.
Chưa có căn cứ để khuyến nghị vô thời hạn. Cần xác định mục tiêu, liều và thời điểm đánh giá lại.

Khi đặt hàng, khách nên ghi hy thiêm thân lá khô, số lượng, dạng cắt và yêu cầu đã chế hay chưa. Với đơn nhiều vị, gửi danh sách giúp đối chiếu nguyên liệu thuận tiện.
Giá đang niêm yết là 150.000 đồng/túi 1 kg, mã chtkbx. Ưu đãi mua số lượng và khả năng cung ứng được xác nhận theo thời điểm.
Thông tin rõ về hàng thực tế có giá trị hơn những cam kết hết đau, hết gout hoặc hạ acid uric sau một số ngày cố định.
Phụ trách kiểm duyệt chuyên môn: Trần Văn Bằng – Y sĩ Y học cổ truyền
Người gửi / điện thoại
ĐC: E67 Đường Phú Thuân , Phường Phú Thuận, Quận 7, Hồ Chí Minh
GPKD: 41G8026476 ngày 30/07/2015 - MST: 037085015723
Email:duoclieubupxanh@gmail.com
Website: https://trungtamduoclieu.vn