Giá: 150.000 VND
Đánh giá 12 lượt đánh giá
Lá dâu tằm khô, tên vị thuốc Tang diệp, được sử dụng trong y học cổ truyền với công năng sơ tán phong nhiệt, thanh can, sáng mắt. Dạng lá khô thuận tiện bảo quản, cân chia và chuẩn bị theo bài thuốc. Búpxanh giới thiệu đặc điểm nhận biết, công dụng, nghiên cứu, liều tham khảo cùng cách phân biệt lá dâu với cành, quả và vỏ rễ dâu.
Lá dâu tằm khô là lá đã làm khô của cây dâu tằm, tên khoa học Morus alba L., thuộc họ Dâu tằm. Trong y học cổ truyền, vị thuốc này được gọi là Tang diệp, quen thuộc trong các phương thuốc liên quan cảm mạo phong nhiệt, ho do phế nhiệt và một số chứng ở đầu mắt.
Dâu tằm có nhiều bộ phận được sử dụng, nhưng mỗi bộ phận là một vị thuốc riêng. Mua lá để dùng Tang diệp khác với mua cành dâu, quả dâu hay vỏ rễ. Xác định rõ ngay từ tên sản phẩm giúp người mua chọn đúng nguyên liệu và chuẩn bị đúng phương thuốc.
Với dạng lá khô, những thông tin nên quan tâm gồm độ khô, mức độ nguyên lá hay cắt nhỏ, lượng cuống và cành lẫn, tình trạng bao bì và hướng dẫn bảo quản. Đây là các điểm thiết thực để đánh giá sự phù hợp của sản phẩm trước khi đặt hàng.

Giá phụ thuộc dạng nguyên liệu, khối lượng và yêu cầu đóng gói. Khách hàng nên xác nhận rõ đang mua lá riêng hay cành lá, bởi hai dạng này không nên được so sánh như cùng một vị thuốc.
| Nội dung | Thông tin cần xác nhận khi mua |
|---|---|
| Sản phẩm | Lá dâu tằm khô – Tang diệp |
| Quy cách | Nguyên lá hoặc cắt theo hàng thực tế |
| Thành phần | Lá; mức cuống, cành lẫn cần phù hợp mô tả |
| Khối lượng | Theo nhãn và đơn đặt hàng |
| Giá bán | Báo theo quy cách tại thời điểm mua |
| Ngày đóng gói, hạn sử dụng | Theo thông tin lô hàng |
| Nhu cầu số lượng lớn | Trao đổi riêng về dạng hàng và yêu cầu kiểm tra chất lượng |
Giá và ưu đãi chỉ nên công bố sau khi xác nhận. Một mức giá cũ trên công cụ tìm kiếm không đủ để đại diện cho giá hiện tại của Búpxanh.
Tên “dâu trắng” trong tiếng Anh là white mulberry, nhưng quả của Morus alba không phải lúc nào cũng trắng. Màu quả thay đổi theo giống; không dựa riêng vào quả tím hay trắng để khẳng định loài.
Dâu tằm là cây bụi lớn hoặc cây gỗ nhỏ. Lá đơn mọc so le, mép có răng cưa, gốc thường tròn hoặc hình tim, đầu nhọn. Lá có thể nguyên hoặc chia thùy không đều, nhất là trên chồi non.
Đặc điểm lá biến thiên là điều cần lưu ý khi nhận diện. Hai lá có hình dạng khác nhau có thể xuất hiện trên cùng cây; ngược lại, một lá có hình gần giống chưa đủ để xác định là dâu tằm. Cần xem thêm cách mọc, gân lá, cành và thông tin nguồn nguyên liệu.
Cây được trồng lâu đời ở Việt Nam, gắn với nghề trồng dâu nuôi tằm. Nguồn lá dùng cho mục đích dược liệu cần phù hợp yêu cầu sử dụng, không mặc định mọi lá thu từ vườn cảnh hoặc vùng trồng khác mục đích đều có cùng chất lượng.
Đối với lá đã khô, phiến thường nhăn và dễ gãy hơn lá tươi. Màu sắc có thể thay đổi theo cách làm khô và lưu trữ; chất lượng không được quyết định chỉ bởi màu xanh đậm hay hình ảnh đẹp.
| Tên vị thuốc | Nguyên liệu | Vai trò cổ truyền thường được ghi nhận |
|---|---|---|
| Tang diệp | Lá dâu | Sơ tán phong nhiệt, thanh can, minh mục, nhuận phế chỉ ho |
| Tang chi | Cành dâu | Khu phong, lợi khớp |
| Tang bạch bì | Vỏ rễ đã chế biến phù hợp | Thanh phế, bình suyễn, lợi thủy tiêu thũng |
| Tang thầm, tang thậm | Quả dâu chín | Dưỡng huyết, bổ can thận theo tài liệu cổ truyền |
| Tang ký sinh | Dược liệu từ cây ký sinh, không phải lá dâu | Được định danh và sử dụng riêng |
| Tang phiêu tiêu | Bao trứng bọ ngựa | Nguồn gốc động vật; không phải bộ phận thực vật của cây dâu |
Bảng phân biệt giúp chọn đúng nguyên liệu, không phải hướng dẫn thay thế. Đặc biệt, rễ dâu nguyên khối không đồng nghĩa Tang bạch bì; lá của cây ký sinh trên cành dâu cũng không phải Tang diệp.
Nếu hàng thực tế là cành lá khô hỗn hợp, tên thương mại cần phản ánh đúng trạng thái đó. Liều Tang diệp trong tài liệu không được áp dụng nguyên xi cho hỗn hợp chưa biết tỷ lệ.
Lá dùng làm dược liệu cần được chọn lọc, loại bỏ phần hư, làm sạch phù hợp và phơi hoặc sấy đến khô. Thời điểm thu hái, giống cây và công nghệ chế biến có thể ảnh hưởng thành phần.
Với hàng khô, nên ưu tiên nguyên liệu có mô tả rõ, ít tạp chất, không ẩm và không có dấu hiệu hư hỏng. Dạng còn phiến lá thuận tiện quan sát; dạng cắt phù hợp khi cần chia lượng và phối hợp, nhưng khó nhận diện hơn nếu cắt quá vụn.
Các yêu cầu về độ ẩm, định danh, vi sinh, kim loại nặng hoặc dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cần được đánh giá bằng phương pháp tương ứng. Không dùng cảm quan để thay cho kết quả kiểm tra, cũng không gắn nhãn “đạt dược điển” khi chưa có căn cứ cho chính lô hàng.
Khi mua cho cơ sở chế biến, nên làm rõ ngay yêu cầu về bộ phận, kích thước cắt và hồ sơ cần cung cấp. Việc này giúp báo giá và chuẩn bị hàng chính xác hơn.

Một thành phần được nghiên cứu nhiều là 1-deoxynojirimycin, thường viết tắt DNJ, thuộc nhóm iminosugar. Chất này được quan tâm vì khả năng ức chế α-glucosidase, enzyme tham gia phân giải một số carbohydrate tại ruột.
Đó là cơ sở của hướng nghiên cứu ảnh hưởng đến mức tăng đường huyết sau ăn. Tuy nhiên, lượng DNJ thay đổi theo nguyên liệu và dạng chế phẩm; một gam lá khô không tương đương một lượng DNJ cố định nếu chưa định lượng.
Các công trình hóa thực vật ghi nhận những nhóm flavonoid và acid phenolic trong lá. Chúng được quan tâm trong nghiên cứu chống oxy hóa và những hoạt tính sinh học khác.
Thành phần của lá không giống vỏ rễ hay quả. Không lấy danh sách anthocyanin của quả tím hoặc các hợp chất đặc trưng của vỏ rễ để mô tả như thành phần chính của lá khô.
Nước sắc sử dụng phần được chiết vào nước; bột lá có thể sử dụng toàn phần nguyên liệu; cao chiết được tạo theo quy trình riêng và đôi khi chuẩn hóa DNJ. Những khác biệt này ảnh hưởng lượng tiếp xúc, khả năng dung nạp và cách đọc nghiên cứu.
Vì vậy, công dụng quảng cáo của cao chuẩn hóa không thể chuyển nguyên vẹn sang một gói lá khô. Thông tin nghiên cứu cần đi kèm đúng dạng dùng.
Theo tài liệu YHCT, Tang diệp có vị ngọt, đắng, tính hàn; quy vào kinh Phế và Can. Công năng nổi bật là sơ tán phong nhiệt, thanh can, minh mục, đồng thời được dùng trong các phương thuốc nhuận phế, chỉ ho.
“Minh mục” là thuật ngữ cổ truyền gắn với biện chứng và phương thuốc, không đồng nghĩa làm tăng thị lực cho mọi nguyên nhân giảm nhìn. Tương tự, “thanh can” không phải tuyên bố điều trị viêm gan hay thải mọi độc chất khỏi cơ thể.
Công năng cổ truyền giúp định hướng lựa chọn vị thuốc trong một hệ thống điều trị. Khi giới thiệu sản phẩm, giữ đúng các thuật ngữ này sẽ chính xác hơn việc gom thành những lời hứa chung như chữa ho, bổ mắt và hạ đường huyết cho mọi người.
Tang diệp có trong các phương thuốc dùng cho biểu hiện phong nhiệt và phế táo theo YHCT. Những dấu hiệu như ho, họng khô, cảm giác nóng hoặc khát cần được xem xét trong toàn bộ chứng trạng, không chỉ dựa vào một triệu chứng riêng.
Tang cúc ẩm là ví dụ về cách phối lá dâu cùng những vị khác để phát huy vai trò của phương thuốc. Giá trị của vị Tang diệp nằm trong phối hợp cụ thể, chứ không thể quy toàn bộ tác dụng của bài thuốc cho riêng lá dâu.
Tài liệu YHCT ghi nhận sử dụng với một số chứng đau đầu, hoa mắt, mắt đỏ thuộc phạm vi phong nhiệt hoặc can nhiệt. Đây là chỉ định theo hệ thống cổ truyền.
Ứng dụng không đồng nghĩa lá dâu điều trị được tật khúc xạ, đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp hoặc mọi bệnh võng mạc. Bài sản phẩm tập trung giới thiệu vai trò vị thuốc, thay vì mở rộng thành danh sách bệnh mắt.
Đây là hướng có nghiên cứu trên người. Một số thử nghiệm sử dụng bột hoặc cao lá dâu có định lượng DNJ cho thấy tác động đến đáp ứng glucose sau bữa ăn.
Kết quả giúp giải thích vì sao lá dâu được quan tâm trong phát triển chế phẩm hỗ trợ chuyển hóa. Mức tác động và khả năng ứng dụng còn phụ thuộc dạng dùng, lượng DNJ, bữa ăn và đặc điểm người tham gia.
Thử nghiệm hóa học, tiền lâm sàng và một số nghiên cứu người có khảo sát chỉ dấu oxy hóa, insulin hoặc lipid máu. Mỗi kết quả cần đọc theo đúng chỉ tiêu; thay đổi một dấu ấn sinh học không tương đương cải thiện toàn bộ sức khỏe hay phòng mọi biến chứng.
Với nguyên liệu lá khô, đây là thông tin nghiên cứu bổ trợ. Chưa có căn cứ để cam kết một lượng lá bất kỳ tạo ra hiệu quả tương đương chế phẩm nghiên cứu.
Công trình gồm một thử nghiệm cấp tính ở 12 người và một thử nghiệm kéo dài 12 tuần ở 76 người có rối loạn chuyển hóa glucose. Đối tượng sử dụng cao lá dâu làm giàu DNJ.
Kết quả gợi ý cải thiện đáp ứng glucose sau thử thách carbohydrate và một chỉ dấu liên quan đường huyết sau ăn. Tuy nhiên, nghiên cứu dài hơn không ghi nhận khác biệt giữa nhóm về đường huyết đói, HbA1c và albumin glycat hóa.
Điểm cần giữ khi ứng dụng là hiệu quả sau ăn không đồng nghĩa mọi chỉ số đường huyết đều giảm. Cao đã định lượng cũng không tương đương lá khô chưa kiểm tra DNJ.
Nghiên cứu khảo sát liều DNJ và theo dõi người béo phì có đường huyết ở mức ranh giới trong 12 tuần. Tác giả ghi nhận một số thay đổi đường huyết, nhưng không quan sát thấy cải thiện dung nạp glucose.
Một số mức giảm được báo cáo là so với ban đầu, cần phân biệt với chênh lệch so với nhóm đối chứng. Thông tin này giúp đánh giá kết quả cân bằng, không biến một thử nghiệm thành cam kết hiệu quả cho khách hàng.
Thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, có giả dược gồm 60 người đái tháo đường type 2, theo dõi 12 tuần. Người tham gia nhận cao Morus alba hoặc giả dược.
So với đối chứng, tác giả báo cáo thay đổi insulin, malondialdehyde và HDL-cholesterol, trong khi các chỉ tiêu chuyển hóa khác không thay đổi có ý nghĩa. Điều này cho thấy kết quả có tính chọn lọc, không phải tác dụng cải thiện mọi thông số.
| Dữ liệu | Có thể sử dụng trong bài sản phẩm | Không nên suy ra |
|---|---|---|
| Tài liệu Tang diệp | Công năng và cách dùng cổ truyền của lá | Công dụng của cả cây giống nhau |
| Cao lá dâu định lượng DNJ | Có nghiên cứu người về đáp ứng glucose | Liều gam lá khô tương đương cao |
| Thử nghiệm chống oxy hóa | Ghi nhận hoạt tính trong hệ thử | Ngăn ngừa mọi bệnh mạn tính |
| Công thức nhiều vị | Vai trò Tang diệp trong phương thuốc | Toàn bộ hiệu quả do riêng lá dâu |
Bảng nghiên cứu chọn những công trình đã đối chiếu, không tuyên bố là toàn bộ công bố trên thế giới. Các hướng nghiên cứu khác chỉ nên bổ sung khi kiểm tra được đúng loài, bộ phận và thiết kế.

Các phương dưới đây là tư liệu chuyên môn tham khảo, không phải công thức phối mới của Búpxanh. Liều được trình bày theo bản nguồn, không dùng làm đơn chung cho mọi người.
Thành phần: Tang diệp, cúc hoa, hạnh nhân, liên kiều, cát cánh, lô căn mỗi vị 12 g; bạc hà và cam thảo mỗi vị 4 g.
Cách dùng nguồn ghi: Sắc một thang mỗi ngày, chia hai lần.
Phạm vi: Cảm mạo phong nhiệt, thiên về tuyên phế chỉ khái theo biện chứng. Đây là phiên bản trong bản hướng dẫn chuyên môn tập II lưu trên cổng thông tin cơ quan nhà nước; các phiên bản khác có thể thay đổi liều.
Khi chuẩn bị, cát cánh, bạc hà và cam thảo cần đúng dược liệu của phương. Hạnh nhân dùng trong thuốc không mặc định là hạt hạnh nhân thực phẩm bán làm đồ ăn vặt.
Thành phần: Bạc hà, cát căn, địa liền, lá tre, cúc tần, Tang diệp, cam thảo đất, bạch chỉ, cối xay mỗi vị 10 g; ké đầu ngựa 12 g.
Cách dùng nguồn ghi: Sắc ngày một thang, dùng ba thang.
Phạm vi: Nghiệm phương được ghi trong cùng mục hướng dẫn về cảm mạo phong nhiệt, không phải trà uống dài ngày.
Các vị cát căn, cam thảo đất và cối xay – nhĩ hương thảo có danh tính và bộ phận dùng riêng. Cam thảo đất trong công thức này không được đổi thành cam thảo Bắc chỉ vì tên gần giống.
Thành phần theo bản bệnh viện công bố: Tang diệp 12 g, thạch cao 10 g, mạch môn 4,8 g, cam thảo 4 g, hồ ma nhân 4 g, a giao 3,2 g, hạnh nhân 2,8 g, nhân sâm 2,8 g, tỳ bà diệp một lá.
Cách dùng nguồn ghi: Ngày một thang, sắc chia ba lần.
Đây là phương thanh táo, nhuận phế; không coi là bài thuốc giải cảm thông thường để tự phối. Đơn vị “một lá” và cách chuẩn bị từng vị cần được người kê đơn xác định khi áp dụng thực tế. Nguồn không cung cấp quy trình sắc riêng đầy đủ cho từng thành phần, nên bài không tự bổ sung.
Tài liệu còn ghi nhận dùng lá trong mồ hôi trộm hoặc một số chứng chảy máu. Những nội dung này cần xác định đối tượng và trạng thái chế biến trước khi áp dụng. Bài không bổ sung đơn trẻ em, không quy đổi liều người lớn theo một tỷ lệ cố định và không hướng dẫn rắc bột lá lên vết thương.
Bệnh viện Y học cổ truyền TP.HCM công bố mức 5–12 g/ngày, dạng sắc. Đây là khoảng tham khảo phù hợp để trình bày cho Tang diệp; người kê đơn có thể lựa chọn lượng khác theo phương thuốc và tình trạng cụ thể.
Liều Tang diệp không dùng chung cho Tang chi, Tang bạch bì hoặc quả dâu. Liều DNJ trong nghiên cứu cũng là lượng một chất đã được định lượng, không phải số gam lá.
Khi cân chia, nên dùng cân thay vì ước lượng bằng nắm. Lá to, lá vụn và lá nén trong túi có thể cho khối lượng rất khác dù trông như cùng một thể tích.
Kiểm tra nguyên liệu, cân đúng lượng và chuẩn bị theo yêu cầu của đơn. Dùng dụng cụ sạch, lượng nước và thời gian sắc do người có chuyên môn hướng dẫn; bài không tự đặt một quy trình duy nhất cho cả đơn vị và phương nhiều thành phần.
Có thể dùng ấm điện sắc thuốc, nhưng cần kiểm tra mức nước tối thiểu và chế độ của thiết bị. Đơn có vị cần xử lý riêng phải làm đúng hướng dẫn trước khi sử dụng chế độ tự động.
Nếu mua sản phẩm được hướng dẫn làm trà, dùng theo nhãn của chính sản phẩm. Không lấy liều cao chiết trong thử nghiệm để tự pha nước lá đậm hoặc cô thành cao.
Lá nguyên liệu, trà phối trộn và viên cao là những dạng khác nhau. Khi lựa chọn, nên xem mục đích sử dụng và thành phần thực tế để tránh mua nhầm giữa đồ uống và nguyên liệu cho phương thuốc.
Dược liệu có thể được chế theo yêu cầu từng phương, nhưng không phải mọi gói Tang diệp đều cần tự sao thêm. Khi mua theo đơn, nên cung cấp đủ yêu cầu chế biến để chuẩn bị đúng trạng thái.

Lá dâu khô phù hợp về nhu cầu với người cần Tang diệp theo hướng dẫn YHCT, cơ sở chuẩn bị phương thuốc và người đang tìm hiểu đúng nguyên liệu lá dâu.
Người quan tâm đến chuyển hóa đường nên phân biệt mục đích mua lá khô với lựa chọn chế phẩm chuẩn hóa. Bài nghiên cứu có thể giúp đặt câu hỏi phù hợp về thành phần, nhưng không tự xác lập một liệu trình cho sản phẩm nguyên liệu.
Khách hàng mua cho gia đình nên chọn lượng vừa nhu cầu, thuận tiện đóng kín và cân chia. Khách hàng mua số lượng lớn nên thống nhất bộ phận, quy cách cắt và yêu cầu chất lượng trước khi xác nhận đơn.
Tang diệp là tên vị thuốc từ lá Morus alba. Khi dùng làm dược liệu, vẫn cần kiểm tra đúng loài, chất lượng và cách chế biến; mục đích thu hoạch ban đầu không tự thay thế các yêu cầu này.
Có. Tang diệp tập trung bộ phận lá, trong khi cành lá là hỗn hợp. Tỷ lệ thành phần khác nhau làm cho việc cân liều không thể áp dụng ngang nhau.
Không. Nghiên cứu có thể dùng bột hoặc cao với DNJ được định lượng. Lá khô chưa kiểm tra DNJ không có mức hoạt chất cố định để quy đổi trực tiếp.
Lá nguyên dễ quan sát hình dạng; lá cắt thuận tiện chia và phối hợp. Cần xem thêm độ khô, mức vụn, tạp chất và nhãn thay vì chỉ chọn theo hình thức.
Morus alba có các giống cho màu quả khác nhau. Không kết luận loài chỉ từ màu quả; nên đối chiếu định danh của nguồn nguyên liệu.
Bạn có thể gửi danh sách vị, khối lượng và yêu cầu chế biến. Búpxanh cần xác nhận mặt hàng và quy cách có thể cung cấp ở thời điểm đặt, nhất là khi đơn phân biệt lá dâu, cành dâu và vỏ rễ dâu.

Mua sản phẩm tại Búpxanh, bạn đặt niềm tin đúng chỗ. Khi liên hệ, hãy nói rõ nhu cầu lá dâu tằm khô – Tang diệp, số lượng và dạng nguyên hay cắt để nhận thông tin đúng mặt hàng.
Nên xác nhận ảnh thực tế, khối lượng tịnh, giá, ngày đóng gói hoặc sản xuất và hạn sử dụng. Nếu cần cành lá hỗn hợp hoặc bộ phận khác, hãy nêu riêng để tránh nhầm với lá dùng trong đơn.
Tên sản phẩm rõ bộ phận giúp chọn hàng thuận tiện hơn và tạo cơ sở trao đổi cách dùng. Chất lượng cần gắn với nguyên liệu thực tế, không thay bằng cam kết hiệu quả bệnh lý chung.
Giữ trong bao bì kín, nơi khô thoáng, tránh ánh nắng, hơi ẩm và nguồn mùi mạnh. Lấy lá bằng dụng cụ khô sạch, đóng kín ngay sau đó. Tuân thủ hạn sử dụng; không dùng nguyên liệu ẩm mốc, có côn trùng hoặc mùi bất thường.
Theo tài liệu YHCT, người thuộc chứng hư hàn cần thận trọng. Một số nghiên cứu chế phẩm lá dâu ghi nhận đầy bụng, chướng hơi hoặc phân lỏng. Người đang dùng thuốc hạ đường huyết cần trao đổi với người điều trị và theo dõi glucose phù hợp; không tự giảm thuốc. Phụ nữ mang thai, cho con bú, trẻ nhỏ, người suy gan, suy thận hoặc dùng nhiều thuốc cần được tư vấn riêng trước khi dùng.
Không tự thay bộ phận, tăng lượng hoặc dùng kéo dài nhằm chữa bệnh. Hạnh nhân dùng làm thuốc và các vị cần bào chế phải được chuẩn bị đúng; lưu ý này áp dụng cho toàn bộ bài phối hợp. Khó thở, đau ngực, sốt cao kéo dài, ho ra máu hoặc giảm thị lực đột ngột cần được khám kịp thời. Không nhỏ nước lá vào mắt, không dùng bột nguyên liệu lên vết thương hở và không thay thuốc điều trị bằng dược liệu.
kiểm duyệt chuyên môn: Trần Văn Bằng – Y sĩ Y học cổ truyền.
Người gửi / điện thoại
Tôi cần mua 10 cây dâu tằm ( dâu tằm việt) loại cây to như quảng cáo. Cho xin thông tin cụ thể để thống nhất mua và thanh toán. Địa chỉ: Dầu ngõ tổ 66 khu 6 phường Hà Khẩu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng ninh
Trả lờiĐC: E67 Đường Phú Thuân , Phường Phú Thuận, Quận 7, Hồ Chí Minh
GPKD: 41G8026476 ngày 30/07/2015 - MST: 037085015723
Email:duoclieubupxanh@gmail.com
Website: https://trungtamduoclieu.vn