Giá: 230.000 VND
Đánh giá 4 lượt đánh giá
Bạch hoa xà là dược liệu từ cây Plumbago zeylanica, còn gọi đuôi công trắng, khác với bạch hoa xà thiệt thảo. Rễ và lá có ghi nhận sử dụng trong kinh nghiệm phong thấp, sưng đau và ngoài da, nhưng có độc tính, dễ gây kích ứng. Búpxanh chịu trách nhiệm nguồn hàng, xuất xứ và hóa đơn hợp pháp. Liên hệ xác nhận bộ phận, giá trước mua.
Bạch hoa xà là dược liệu từ cây Plumbago zeylanica L., còn được biết đến với tên đuôi công trắng hoặc bạch tuyết hoa. Vị thuốc có những ghi nhận trong kinh nghiệm thuốc Nam về phong thấp, đau nhức, sưng đau và một số bệnh ngoài da. Đây là cây có độc tính và khả năng gây kích ứng, cần lựa chọn đúng bộ phận và sử dụng dưới hướng dẫn chuyên môn.
Bạch hoa xà không phải bạch hoa xà thiệt thảo. Hai cây khác nguồn thực vật, thành phần và cách sử dụng. Nếu đơn ghi thiệt thảo, khách hàng cần chọn đúng sản phẩm có tên đầy đủ, không thay bằng bạch hoa xà chỉ vì tên gần giống.

Giá bán: liên hệ Búpxanh để xác nhận theo khối lượng và bộ phận đặt mua.
Dạng dược liệu khô, phần rễ hoặc phần trên mặt đất phải theo nhãn hàng thực tế. Khách mua theo đơn nên cung cấp đúng tên Plumbago zeylanica, bộ phận và yêu cầu chế biến để chọn đúng hàng. Trọng lượng túi và hạn dùng theo nhãn.
| Nội dung | Thông tin |
|---|---|
| Tên sản phẩm | Bạch hoa xà |
| Tên thường gặp | Đuôi công trắng, đuôi công hoa trắng, bạch tuyết hoa, cây lá đinh |
| Tên khoa học | Plumbago zeylanica L. |
| Họ thực vật | Plumbaginaceae – họ Đuôi công |
| Bộ phận có ghi nhận sử dụng | Rễ, lá; một số nguồn ghi toàn cây |
| Thành phần đáng chú ý | Plumbagin |
| Đặc điểm an toàn | Có thể gây kích ứng, phồng rộp da; không tự dùng khi mang thai |
Tên “đuôi công” cũng được dùng cho các cây khác trong cùng nhóm. Không dựa vào tên địa phương hoặc hoa màu trắng để tự kết luận đúng dược liệu.

| Đặc điểm | Bạch hoa xà | Bạch hoa xà thiệt thảo |
|---|---|---|
| Nguồn thực vật | Plumbago zeylanica | Hedyotis diffusa; tên được phân loại hiện nay là Scleromitrion diffusum |
| Họ | Đuôi công – Plumbaginaceae | Cà phê – Rubiaceae |
| Lá điển hình | Lá rộng hơn, mọc so le | Lá hẹp nhỏ, mọc đối |
| Hoa điển hình | Hoa trắng có ống tràng dài, thường thành cụm bông | Hoa trắng rất nhỏ, thường đơn độc hoặc từng đôi ở nách lá |
| Thành phần thường được nhắc | Plumbagin | Iridoid glycosid, triterpenoid và những nhóm chất khác |
| Trọng tâm nội dung | Kinh nghiệm phong thấp, sưng đau, ngoài da và độc tính | Thanh nhiệt giải độc, lợi niệu thông lâm, tiêu ung tán kết |
| Thay thế trong đơn | Không tự thay cho thiệt thảo | Không tự thay bằng bạch hoa xà |
Xem riêng sản phẩm bạch hoa xà thiệt thảo nếu đây là vị thuốc được ghi trong đơn.
Bạch hoa xà là cây sống nhiều năm, có thân phân nhánh và lá mọc so le. Hoa trắng, ống tràng dài; đài có lông tuyến tạo cảm giác dính là một dấu hiệu thực vật thường được mô tả.
Ở dạng khô, những đặc điểm hoa và lá có thể không còn nguyên vẹn. Rễ có bề mặt nhăn, màu thay đổi theo sơ chế và thời gian bảo quản. Không dùng hình ảnh một bó cỏ nhỏ lá hẹp của thiệt thảo để minh họa cho bạch hoa xà.
Cảm quan giúp nhận biết bất thường nhưng không thay định danh. Khi kiểm tra hàng, cần chú ý bộ phận, tạp chất, độ khô và mùi; loại bỏ hàng mốc, ẩm hoặc bị côn trùng.
Rễ và phần trên mặt đất là những dạng dược liệu khác nhau. Tài liệu về rễ tươi không thể áp dụng nguyên xi cho toàn cây khô. Việc làm sạch, cắt và làm khô phải phù hợp bộ phận được bán.
Không tự gán “đã khử độc” cho hàng chỉ vì đã phơi, sấy hoặc sao. Nếu đơn yêu cầu một phương pháp chế biến, cần được xác nhận cụ thể trước khi dùng.
Plumbagin là một naphthoquinon được nghiên cứu nhiều ở bạch hoa xà. Các nguồn còn ghi nhận những hợp chất liên quan trong các phần cây và mẫu chiết khác nhau. Hàm lượng và tác động phụ thuộc bộ phận, quy trình chiết và điều kiện thử nghiệm.
Điểm cần hiểu là hoạt tính sinh học và độc tính có thể cùng tồn tại. Một chất ức chế tế bào trong phòng thí nghiệm không mặc nhiên trở thành thuốc an toàn khi uống hoặc bôi.
Thông tin về plumbagin không xác nhận hàm lượng của lô hàng Búpxanh. Không đưa nồng độ thí nghiệm hoặc số miligam hoạt chất thành liều dược liệu khô khi chưa có cơ sở quy đổi.
Nguồn thuốc Nam và bài giới thiệu của bác sĩ ghi nhận bạch hoa xà trong hướng khử phong, giảm đau, tán ứ, tiêu thũng và sử dụng ngoài da. Những ghi nhận này cần đọc theo đúng loài, bộ phận và bối cảnh dùng.
Bạch hoa xà xuất hiện trong kinh nghiệm liên quan đau nhức do phong thấp, thường dùng trong phối hợp. Đây là hướng sử dụng cổ truyền, không phải chỉ định chung cho mọi đau lưng, đau khớp hoặc tê bì.
Người có đau kéo dài, khớp sưng nóng, yếu cơ hay tê tăng cần được đánh giá trước. Không dùng khả năng gây nóng da để kết luận đã xử lý được tổn thương bên trong.
Y văn có ghi nhận dùng rễ hoặc lá ngoài da trong phạm vi sưng đau. Tuy nhiên, dược liệu có thể gây tổn thương khi tiếp xúc nên cách dùng không thể tách khỏi theo dõi an toàn.
Chấn thương gây biến dạng, mất khả năng chịu lực hoặc đau tăng cần khám. Bài không hướng dẫn tự đắp lên vùng trầy, vết thương hở hoặc cố chịu rát để “tan sưng”.
Đỗ Tất Lợi ghi lại cách dùng dân gian liên quan ghẻ, chốc và mụn nhọt. Đây là dữ liệu lịch sử về sử dụng rễ, lá; không xác lập một quy trình bôi an toàn cho mọi tổn thương.
Không tự bôi nước sắc hoặc rượu dược liệu lên niêm mạc, mắt hay diện da rộng. Tổn thương da có mủ, loét sâu hoặc lan rộng cần được đánh giá nguyên nhân.
Một số tài liệu có nhắc những kinh nghiệm liên quan tiêu hóa, huyết áp hoặc kinh nguyệt. Bài trình bày chúng như phạm vi lưu truyền, không biến thành cam kết ổn định huyết áp hay hướng dẫn tự điều kinh.
Do cây có độc và nguy cơ với thai kỳ, những cách sử dụng nhằm gây tẩy hoặc tác động đến sinh sản không phù hợp làm hướng dẫn dùng tại nhà. Người chậm kinh cần loại trừ thai và tìm nguyên nhân trước khi dùng dược liệu.
Nguồn độc chất học của Hospital Authority Hồng Kông có ghi mức 9–15g trong phần sử dụng cổ truyền cho toàn cây hoặc rễ. Đây không phải khoảng liều đã được xác lập an toàn cho mọi người hoặc mọi dạng hàng khô.
| Ghi nhận | Lượng được nguồn nêu | Cách hiểu |
|---|---|---|
| Phần sử dụng cổ truyền trong hồ sơ độc chất học | 9–15g | Cần người có chuyên môn lựa chọn và kiểm soát |
| Công thức phong thấp trên bài báo của bác sĩ | Rễ 12g trong phương phối hợp | Liều rễ trong một kinh nghiệm cụ thể |
| Dùng ngoài | Phụ thuộc chế phẩm và vùng tiếp xúc | Không có thời gian hoặc lượng chung để tự đắp |
Không áp dụng liều của thiệt thảo 20–40g/ngày cho bạch hoa xà. Không tự quy đổi từ rễ tươi sang rễ khô, từ cao chiết sang cây hoặc tự tăng liều vì đau nhiều.
Nếu sử dụng theo đơn, cân đúng bộ phận và lượng được kê; cách sắc, thời điểm uống và thời gian theo dõi theo người hướng dẫn. Bài không bổ sung một công thức sắc chung khi nguồn không nêu.
Với dùng ngoài, cần xác định chế phẩm, vùng da, cách theo dõi và xử trí nếu kích ứng. Không tự ngâm rượu, tán bột đắp kín hoặc để qua đêm theo kinh nghiệm không rõ nguồn.

Bài “Thuốc từ cây bạch hoa xà”, ký tên BS Quách Tuấn Vinh, ghi rễ bạch hoa xà 12g, dây đau xương 12g, thổ phục linh 16g.
Đây là công thức kinh nghiệm đăng trên báo, chưa phải thử nghiệm lâm sàng của sản phẩm đang bán. Cần được người có chuyên môn đánh giá trước khi áp dụng; không tự thêm các vị khác hoặc dùng cho mọi dạng đau khớp.
Tài liệu Đỗ Tất Lợi ghi nhận sử dụng rễ hoặc lá trong những hỗn hợp đắp ngoài. Bài giữ thông tin về dạng dùng nhưng không biến thành công thức tự đắp, vì mức tiếp xúc và độ kích ứng chưa được chuẩn hóa.
Rễ và lá của bạch hoa xà đều cần thận trọng. Một bài thuốc có nguồn lưu truyền vẫn có thể gây phản ứng bất lợi nếu dùng sai người, sai dạng hoặc sai thời gian.
Những công thức được chia sẻ với mục tiêu tẩy xổ, xử lý chậm kinh hoặc tác động đến thai không đưa thành hướng dẫn tự sử dụng. Các cách này có thể gây nguy hiểm và không phải lợi ích để quảng cáo sản phẩm.
Tương tự, không gắn bài phối thiệt thảo–bán chi liên vào trang bạch hoa xà: đó là dược liệu khác.
Các tổng quan nghiên cứu ghi nhận nhiều thử nghiệm về cao chiết và hoạt chất, gồm hướng kháng vi sinh vật, chống viêm và giảm đau. Mẫu chiết, dung môi và đối tượng thử nghiệm rất khác nhau.
Một nghiên cứu tại Việt Nam năm 2022 khảo sát cao rễ đối với E. coli gây bệnh trên gia cầm. Đây là hướng thú y và thử nghiệm vi khuẩn; không suy thành hiệu quả điều trị nhiễm trùng ở người.
Plumbagin được khảo sát trong các mô hình tế bào, động vật và phát triển chế phẩm. Tổng quan năm 2025 nhấn mạnh cả tiềm năng dược lý lẫn vấn đề sinh khả dụng và độc tính.
Những dữ liệu này không chứng minh túi bạch hoa xà khô có lợi ích điều trị ung thư. Không dùng tỷ lệ giảm khối u trên chuột để cam kết tác dụng cho người bệnh.
Nghiên cứu so sánh các cao rễ trên chuột Wistar ghi nhận độc tính khác nhau tùy dung môi và lượng plumbagin. Một số chỉ số cơ quan, sinh hóa gan và thận thay đổi ở các nhóm thử nghiệm.
Điều này cho thấy cần xét chế phẩm cụ thể khi đánh giá an toàn. Không lấy một mẫu chiết ít độc hơn để tuyên bố toàn cây hoặc mọi cách sắc đều an toàn.
Các nguồn tra cứu không cung cấp thử nghiệm lâm sàng đủ tin cậy để nêu tỷ lệ chữa bệnh hoặc thời gian giảm đau chắc chắn cho bạch hoa xà khô. Tổng quan năm 2021 cũng nêu chưa tìm thấy thử nghiệm ngẫu nhiên trên người trong phạm vi tìm kiếm của nhóm tác giả.
Một ghi nhận trên người đáng chú ý là ca tổn thương da sau dùng hỗn hợp đắp có Plumbago zeylanica trong hồ sơ độc chất học Hồng Kông. Ca này chứng minh nguy cơ tiếp xúc, không phải bằng chứng hiệu quả.
Ứng dụng sản phẩm cần đặt ở vai trò dược liệu có yêu cầu kiểm soát chuyên môn, không phải nước uống sức khỏe hoặc thuốc bôi tự dùng phổ thông.
Không dùng khi mang thai hoặc có khả năng mang thai. Nguồn độc chất học ghi nhận nguy cơ với thai kỳ; không thử bằng liều nhỏ hơn.
Rễ và lá có thể gây đau rát, viêm da tiếp xúc, phồng rộp. Khi uống có thể xuất hiện nôn hoặc tiêu chảy. Người bệnh gan, thận, trẻ nhỏ hoặc đang dùng nhiều thuốc cần được đánh giá riêng, không tự sử dụng.
Nếu da bị tiếp xúc gây phản ứng, ngừng tiếp xúc, rửa bằng nước và tìm trợ giúp y tế khi tổn thương đáng kể. Nếu đã uống và xuất hiện triệu chứng, không tự gây nôn hoặc xử lý bằng một vị thuốc khác.
Dữ liệu tương tác trên người còn hạn chế. Không ghi “không có tương tác”, “hoàn toàn lành tính” hoặc “đã phơi khô nên hết độc”. Người đang điều trị bệnh nặng cần cung cấp đầy đủ thông tin dược liệu cho bác sĩ.
Giữ trong bao bì kín, nơi khô thoáng, tránh ẩm; để riêng khỏi thực phẩm và ngoài tầm với trẻ em. Giữ nhãn rõ tên Plumbago zeylanica để tránh nhầm với thiệt thảo.
Hạn dùng theo nhãn thực tế. Loại bỏ dược liệu mốc, mùi bất thường hoặc bị côn trùng; không chỉ sao lại rồi tiếp tục dùng.

Búpxanh có tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm về nguồn dược liệu và xuất xứ, có hóa đơn đầu vào và đầu ra hợp pháp. Khách hàng mua bạch hoa xà cần xác nhận đúng Plumbago zeylanica, bộ phận, dạng hàng và khối lượng.
Xem hướng dẫn đặt hàng tại Trung tâm Dược liệu. Giá, giao nhận và đổi trả theo thông tin được xác nhận cho đơn thực tế.
Trước khi sử dụng, nên tham vấn người có chuyên môn (bác sĩ YHCT/đông y).
Không. Bạch hoa xà là Plumbago zeylanica; thiệt thảo là Hedyotis diffusa. Hai cây không thay thế cho nhau trong đơn.
Không. Lấy liều của cây khác áp dụng cho bạch hoa xà có thể gây nguy hiểm.
Không. Da có thể bị viêm, đau rát hoặc phồng rộp; không tự đắp qua đêm hoặc lên vùng tổn thương.
Không mặc định như vậy. Bộ phận và dạng chế biến cần theo đúng đơn.
Các nghiên cứu được trình bày chủ yếu là cao chiết hoặc plumbagin trong thực nghiệm. Bài không xác lập hiệu quả của sản phẩm khô ở người bệnh ung thư.
Liên hệ để xác nhận giá theo đúng dạng hàng. Không dùng giá từ trang đang lẫn nội dung thiệt thảo để gán cho sản phẩm Plumbago.
Kiểm duyệt chuyên môn: Trần Văn Bằng – Y sĩ Y học cổ truyền.
Người gửi / điện thoại
ĐC: E67 Đường Phú Thuân , Phường Phú Thuận, Quận 7, Hồ Chí Minh
GPKD: 41G8026476 ngày 30/07/2015 - MST: 037085015723
Email:duoclieubupxanh@gmail.com
Website: https://trungtamduoclieu.vn