Giá: 150.000 VND
Đánh giá 3 lượt đánh giá
Cây ba chẽ còn gọi niễng đực, ván đất, đậu bạc đầu, được ghi nhận trong kinh nghiệm dùng lá cho lỵ, tiêu chảy và một số cách dùng ngoài. Bài viết giới thiệu tên khoa học, đặc điểm, công dụng, nghiên cứu, liều tham khảo và bài thuốc. Búpxanh chịu trách nhiệm nguồn dược liệu, xuất xứ và hóa đơn hợp pháp. Liên hệ Búpxanh để xem sản phẩm.
Cây ba chẽ, còn gọi niễng đực, ván đất, đậu bạc đầu, là dược liệu được biết đến trong kinh nghiệm sử dụng cho lỵ, tiêu chảy và một số cách dùng ngoài khi đau nhức, bong gân. Lá là bộ phận sử dụng nổi bật trong tài liệu Việt Nam; không lấy liều lá áp dụng chung cho thân hoặc rễ.
Búpxanh có tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm về nguồn dược liệu và xuất xứ, có hóa đơn đầu vào và đầu ra hợp pháp. Khách hàng liên hệ để xem sản phẩm, lựa chọn dạng hàng và nhận báo giá theo nhu cầu.
Giá trị của ba chẽ cần được nhìn từ cả kinh nghiệm y học cổ truyền và nghiên cứu dược lý. Khi sử dụng cho rối loạn tiêu hóa, phải chú ý nguyên nhân bệnh và tình trạng mất nước; không chỉ dựa vào số lần đi ngoài để chọn dược liệu.
| Nội dung | Thông tin |
|---|---|
| Tên sản phẩm | Cây ba chẽ |
| Tên khác | Niễng đực, ván đất, đậu bạc đầu |
| Tên khoa học được chấp nhận | Dendrolobium triangulare (Retz.) Schindl. |
| Tên khoa học đồng nghĩa | Desmodium triangulare (Retz.) Merr.; Hedysarum triangulare Retz. |
| Họ thực vật | Fabaceae — họ Đậu |
| Bộ phận dùng chủ yếu trong tài liệu Việt Nam | Lá |
| Các dạng dùng được ghi nhận | Lá tươi, lá khô, thuốc sắc, cao và chế phẩm viên |
| Giá và quy cách | Liên hệ Búpxanh theo sản phẩm cần mua |
Các dạng cao hoặc viên là chế phẩm riêng. Khối lượng viên không thể chuyển trực tiếp thành số gam cây khô, và liều viên trên một tài liệu cũ không áp dụng cho mọi sản phẩm có tên ba chẽ.
Ba chẽ là cây bụi thuộc họ Đậu. Tên Dendrolobium triangulare được cơ sở dữ liệu Plants of the World Online của Kew chấp nhận; Desmodium triangulare là tên đồng nghĩa.[1]
Trong tài liệu Việt Nam, tên niễng đực và đậu bạc đầu thường xuất hiện cùng ba chẽ; ván đất cũng được ghi nhận trong nguồn giới thiệu vị thuốc.[2,3] Những tên này có thể dùng trong nội dung sản phẩm để người mua tìm đúng dược liệu.
Cây có lá kép gồm ba lá chét. Mặt dưới lá có lớp lông, nhất là ở phần non, tạo đặc điểm dễ nhớ khi quan sát cây còn sống.[3]
Tên dân gian không đủ để xác định nguyên liệu đã cắt nhỏ. Khi dùng theo bài thuốc, cần gắn tên với đúng loài và bộ phận, thay vì chỉ lựa chọn qua cách gọi của người bán.
Ba chẽ thuộc họ Đậu, khác ba chạc thuộc họ Cam và ba đậu thuộc họ Thầu dầu. Những tên gần giống không có nghĩa chung công dụng hoặc liều lượng.
Một số loài từng được xếp trong chi Desmodium có nghiên cứu riêng. Không lấy công trình về Desmodium styracifolium hoặc Desmodium pulchellum để kết luận cho ba chẽ. Việc đọc đúng tên loài đặc biệt quan trọng khi tổng hợp công dụng tiêu hóa hoặc nghiên cứu sỏi tiết niệu.
Ba chẽ là cây bụi phân cành; lá kép ba lá chét, lá chét giữa thường lớn hơn hai lá bên. Hoa nhỏ, trắng hoặc vàng nhạt; quả dạng đậu có các đốt.[4]
Với lá khô, cần quan sát phần phiến, cuống và gân còn lại. Lá có thể co, giòn hoặc đổi sắc nhẹ sau làm khô, nhưng không nên có mùi mốc, chua hoặc vùng ẩm mềm bất thường.
Khi nhận dược liệu, kiểm tra:
Không đánh giá hoạt tính chỉ bằng màu lá. Màu sắc hỗ trợ quan sát tình trạng nguyên liệu, không thay cho việc nhận diện đúng cây.
Đỗ Tất Lợi ghi lá ba chẽ được phơi hoặc sấy, có thể sao hơi vàng rồi dùng.[5] Tài liệu bệnh viện cũng xác định lá là bộ phận dùng chính.[3]
Trong thực hành, lá tươi dùng ngoài, lá khô sắc uống và cao chế từ lá là các dạng khác nhau. Không chuyển lượng lá tươi sang lá khô theo một tỷ lệ tùy ý.
Trước khi sử dụng dược liệu khô, loại bỏ tạp chất, rửa nhanh và chuẩn bị theo hướng dẫn. Không ngâm rồi giữ lá ẩm nhiều ngày hoặc đưa nguyên liệu vừa rửa trở lại túi khô.
Nếu phương thuốc yêu cầu sao vàng, cần đúng dạng bào chế. Không sao cháy để cố xử lý hàng đã ẩm mốc; phần hỏng phải được loại bỏ.
Tài liệu giới thiệu vị thuốc ghi nhận tanin, flavonoid, acid hữu cơ và alkaloid trong lá.[3] PROSEA đề cập các amin và alkaloid như phenylethylamine, tyramine và hordenine.[6]
Nghiên cứu năm 2009 phân lập 13 hợp chất từ Dendrolobium triangulare, trong đó có một hợp chất kiểu azo mới cùng các chất như beta-sitosterol, lupeol và một số hợp chất khác.[7]
Các kết quả này không xác định hàm lượng trong sản phẩm đang bán. Nghiên cứu trên mẫu cây hoặc dịch chiết cũng không có nghĩa mọi bộ phận của ba chẽ chứa lượng chất giống nhau.
Nhóm tanin có thể liên quan tính chất se trong kinh nghiệm sử dụng; flavonoid và alkaloid là hướng nghiên cứu thành phần. Không suy ra tác dụng điều trị chỉ từ việc một cây “có flavonoid”.

Nguồn giới thiệu dược liệu ghi ba chẽ có vị ngọt, hơi đắng, tính ôn, với các cách dùng liên quan khư phong thấp và khử cam tích.[8]
Một số nguồn mô tả rễ với công năng khác như cường gân cốt, kiện tỳ lợi thấp. Đây là thông tin về rễ, không áp dụng liều hoặc công dụng đó cho sản phẩm lá.
Không nên hiểu cụm “không độc” trong mô tả truyền thống là bảo đảm an toàn cho mọi người, mọi liều hoặc sử dụng kéo dài. Cách dùng vẫn cần gắn với dạng nguyên liệu và đối tượng.
Đây là hướng sử dụng nổi bật của lá ba chẽ trong tài liệu Việt Nam. Đỗ Tất Lợi ghi cách dùng lá khô hoặc sao vàng cho kiết lỵ; PROSEA cũng ghi nhận kinh nghiệm lá cho lỵ và tiêu chảy.[4,5]
Khi đọc công dụng, cần phân biệt tiêu chảy với hội chứng lỵ. Đi ngoài phân lỏng có nhiều nguyên nhân; phân có máu hoặc nhầy, đau quặn và mót rặn cần được đánh giá, không chỉ tự dùng một vị thuốc cầm đi ngoài.
Ba chẽ có thể được lựa chọn trong phương chăm sóc theo hướng dẫn chuyên môn. Tuy nhiên, người mất nước hoặc nghi nhiễm khuẩn cần xử trí đúng nguyên nhân, không chờ đủ một liệu trình dân gian mới đi khám.
Tài liệu có ghi dùng ba chẽ trong kinh nghiệm phong tê thấp, đau nhức và cách đắp ngoài.[8,9]
Đây là phạm vi sử dụng truyền thống, không đồng nghĩa có thể chữa mọi bệnh khớp. Người đau khớp nóng đỏ, có sốt, sưng tăng hoặc đau kéo dài cần được thăm khám.
Nếu dùng ngoài, chỉ cân nhắc với da lành và nguyên liệu đúng loại. Không coi bã lá là chế phẩm vô khuẩn hay thuốc bôi có tác dụng đã được định lượng.
Kinh nghiệm đắp lá xuất hiện trong một số nguồn phổ biến bài thuốc.[9] Mục tiêu sử dụng là chăm sóc vùng đau trong phạm vi kinh nghiệm, không thay thế việc đánh giá mức tổn thương.
Không đắp rồi băng quá chặt. Nếu biến dạng chi, không chịu lực được, đau tăng, tê hoặc sưng nhiều, cần loại trừ gãy xương và tổn thương nặng trước.
PROSEA ghi một số kinh nghiệm khác ở cùng loài: nước sắc lá sao dùng cho ho; toàn cây được dùng cho bạch đới; rễ ngâm rượu được xem là có tác dụng liên quan sinh lý.[4]
Đây là ghi nhận dân tộc thực vật học, chưa có liều và dữ liệu hiệu quả đủ rõ để đưa thành hướng dẫn điều trị. Công dụng của toàn cây hoặc rễ cũng không chuyển sang lá khô.
Không giới thiệu ba chẽ là dược liệu điều chỉnh nội tiết, tăng sinh lý hoặc chữa khí hư cho mọi phụ nữ chỉ từ những ghi nhận này.
Tài liệu cũ có đề cập ba chẽ trong kinh nghiệm rắn cắn.[5] Ghi nhận này không xác lập khả năng trung hòa nọc hoặc bảo vệ người bị cắn khỏi biến chứng.
Rắn cắn cần được đưa đến cơ sở cấp cứu ngay. Không nhai lá, uống nước lá, đắp bã hoặc chờ xem dược liệu có tác dụng. Không đưa lời “hút nọc độc” vào công dụng sản phẩm.
PROSEA ghi dịch chiết lá ba chẽ có hoạt tính đối với Escherichia coli và Shigella spp.[6] Các nguồn tổng hợp Việt Nam cũng đề cập hoạt tính trên trực khuẩn lỵ trong điều kiện thử nghiệm.[8]
Kết quả giúp giải thích vì sao lá được nghiên cứu theo hướng tiêu hóa. Tuy nhiên, hoạt tính trên đĩa thử hoặc trong ống nghiệm không đồng nghĩa hiệu quả điều trị mọi nhiễm khuẩn đường ruột ở người.
Không gọi ba chẽ là kháng sinh tự nhiên dùng thay cho quyết định điều trị. Tình trạng bệnh, tác nhân và khả năng mất nước phải được đánh giá riêng.
Tài liệu tổng hợp ghi hoạt tính kháng khuẩn có thể khác giữa cao nước và cao cồn.[8] Điều này không có nghĩa ngâm rượu sẽ tốt hơn thuốc sắc, cũng không đủ để quy định một phương pháp tối ưu cho mọi lô hàng.
Kết quả nghiên cứu cần được đọc cùng dung môi, bộ phận và điều kiện làm khô. Nước sắc tại nhà khác cao chuẩn hóa trong phòng thí nghiệm.
Các tài liệu phổ biến dược liệu ghi hoạt tính chống viêm ở mô hình thực nghiệm cấp và bán cấp.[9] Chưa có đủ thông tin từ các nguồn đã dùng để xác lập mức giảm đau hoặc chống viêm của sản phẩm trên người.
Không đưa con số hiệu quả hoặc thời gian khỏi đau khi chưa có công trình lâm sàng tương ứng. Tác dụng được mô tả của lá cũng không được áp dụng cho một hỗn hợp nhiều thân và rễ.
Công trình năm 2009 khảo sát hợp chất kiểu azo mới từ ba chẽ, ghi nhận hoạt tính bảo vệ tế bào PC12 trong mô hình tổn thương do glutamate.[7]
Đây là dữ liệu tế bào, không phải nghiên cứu cải thiện trí nhớ hoặc điều trị bệnh thần kinh bằng nước sắc. Bài sản phẩm không gán công dụng phòng Alzheimer, chữa mất ngủ hoặc phục hồi thần kinh từ kết quả này.
Một số tài liệu tổng hợp có mô tả hiện tượng thu teo tuyến ức ở chuột cống non.[9] Đây không phải công dụng để quảng cáo tăng miễn dịch hoặc lợi ích cho trẻ em.
Nếu muốn kết luận về miễn dịch, cần nghiên cứu cơ chế, liều, tính an toàn và ý nghĩa lâm sàng cụ thể. Không tự chuyển mọi thay đổi trong cơ quan miễn dịch thành lợi ích.
Nghiên cứu vi khuẩn sống ở nốt sần cây không phải nghiên cứu chứng minh uống lá cây có tác dụng kháng khuẩn trên người. Tương tự, nghiên cứu tiêu chảy hoặc sỏi thận ở loài khác không cung cấp bằng chứng cho ba chẽ.
Việc giữ đúng tên loài, bộ phận và mô hình giúp phần công dụng đầy đủ nhưng không mở rộng sang những tác dụng chưa được xác lập.
Không mặc định phù hợp với mọi người bị tiêu chảy. Trẻ em, người già yếu, thai phụ, người cho con bú, người bệnh gan hoặc thận và người đang dùng thuốc cần được đánh giá riêng.
Đỗ Tất Lợi ghi 30–50g lá ba chẽ khô/ngày trong cách dùng dân gian cho kiết lỵ, đun sôi 15–30 phút, chia hai hoặc ba lần; thời gian ghi trong tài liệu là 3–5 ngày.[5]
Đây là liều được ghi cho mục đích cụ thể, không phải liều uống hằng ngày để bồi bổ. Không dùng khoảng 30–50g làm liều chung cho toàn cây, rễ, cao hoặc viên.
Việc nguồn ghi 3–5 ngày không có nghĩa chờ đủ thời gian khi bệnh nặng. Phân có máu, sốt, mất nước hoặc triệu chứng tăng cần được khám sớm.
| Trường hợp trong tài liệu | Lượng được ghi nhận | Lưu ý |
|---|---|---|
| Lá khô trong kinh nghiệm lỵ | 30–50g/ngày | Mục đích cụ thể, theo hướng dẫn chuyên môn |
| Lá khô phối hợp ké hoa đào | Hai vị đồng lượng theo tài liệu | Không tự ghép thêm các vị khác |
| Lá dùng ngoài khi đau nhức | Một số nguồn ghi 50g lá để giã đắp | Không quy đổi thành 50g lá khô uống |
| Cao hoặc viên | Theo nhãn và hướng dẫn đúng chế phẩm | Không lấy số viên trong tài liệu cũ dùng chung |
| Trẻ nhỏ, thai phụ, người có bệnh nền | Chưa xác lập liều tự dùng phù hợp từ những nguồn đã nêu | Cần đánh giá riêng |
Một nguồn bệnh viện mô tả 30–50g lá khô, 800ml nước, sắc còn khoảng 400ml, chia hai lần trong ngày.[9]
Trước khi sắc, loại tạp chất và rửa nhanh. Dùng dụng cụ sạch; nếu sử dụng ấm điện sắc thuốc, tuân thủ mức nước và hướng dẫn của thiết bị, không đun cạn.
Nước sắc dùng trong ngày, không để nhiều ngày ở nhiệt độ phòng. Liều và cách sắc này là ghi nhận tham khảo; việc dùng thực tế cần phù hợp tình trạng bệnh và bộ phận hàng mua.
Người tiêu chảy cần chú ý bù nước, điện giải. WHO nhấn mạnh vai trò của dung dịch ORS và việc tiếp tục ăn uống phù hợp.[10]
Nước ba chẽ không có thành phần điện giải chuẩn của ORS. Nếu dùng ORS, pha đúng lượng nước theo nhãn, không trộn vào nước thuốc và không tự pha đặc hơn.
Tài liệu có cách giã lá để đắp vùng đau. Không chuyển cách dùng lá giã thành cách đắp bột khô hoặc dùng cả thân rễ khi chưa có hướng dẫn.
Chỉ cân nhắc với vùng da lành, thao tác nhẹ, không băng quá chặt. Dừng khi ngứa, đỏ hoặc kích ứng; không đắp vào vết thương, mắt hay niêm mạc.
Cao và viên khác nguyên liệu thô về nồng độ và thành phần. Một số tài liệu lịch sử có ghi viên ba chẽ, nhưng không đủ để hướng dẫn tự nấu cao rồi chia viên tại nhà.
Đặc biệt, không lấy hướng dẫn số viên cho trẻ trong một bài phổ biến để chia liều của sản phẩm khác. Liều trẻ cần đúng chế phẩm và người điều trị.
Nguyên liệu: Lá ba chẽ khô hoặc lá đã sao theo phương pháp được hướng dẫn.
Nguồn Đỗ Tất Lợi ghi liều và cách đun như phần trên.[5] Đây là cách dùng đơn được lưu truyền, không phải đơn kháng sinh hoặc phác đồ chung cho mọi tiêu chảy.
Người có triệu chứng nặng cần được khám, đánh giá mất nước và nguyên nhân trước khi lựa chọn dược liệu.
Tài liệu tổng hợp ghi phối hợp lá ba chẽ và ké hoa đào đồng lượng, sắc uống trong kinh nghiệm lỵ.[8]
Đồng lượng mô tả tỷ lệ giữa hai vị, không có nghĩa thêm tùy ý một lượng lớn vào liều đang dùng. Liều toàn phương cần do người có chuyên môn quyết định; không tự biến thành công thức dùng dài ngày cho đại tràng.
Nguồn phổ biến ghi dùng 50g lá để giã, đắp vùng đau.[9] Đây là dạng lá đem giã trong cách dùng ngoài, không phải lượng lá khô uống; tài liệu này chưa cung cấp quy đổi cho hàng khô.
Không đắp rồi chờ giảm đau khi nghi gãy xương hoặc trật khớp. Không băng kín lâu trên da kích ứng và không coi thao tác này là làm liền xương.
Kinh nghiệm ho, bạch đới hoặc rễ ngâm rượu có trong tài liệu dân tộc thực vật học, nhưng chưa xác định được phương có liều rõ để hướng dẫn cho sản phẩm này.[4]
Bài sản phẩm không tự đặt thêm vị phối hợp, tỷ lệ ngâm hoặc thời gian điều trị. Kinh nghiệm rắn cắn chỉ ghi như lịch sử sử dụng, không đưa thành cách xử trí.
PROSEA dẫn một tài liệu năm 1984 của Chu Văn Tường và Nguyễn Quang Trung về so sánh viên ba chẽ với ampicillin trong một nghiên cứu được thư mục mô tả là điều trị bệnh tả ở trẻ.[6]
Thông tin truy xuất được là dẫn mục tài liệu, chưa có toàn văn đủ để kiểm tra chẩn đoán, số bệnh nhân, thiết kế, liều và kết quả. Vì vậy, không đưa tỷ lệ khỏi hoặc khẳng định tương đương kháng sinh từ dẫn mục này.
Các nguồn phổ biến dược liệu cũng ghi từng có chế phẩm viên từ cao ba chẽ. Dữ liệu của chế phẩm đó không chuyển thành bằng chứng hiệu quả của một túi lá hoặc toàn cây hiện nay.
| Nhóm thông tin | Nội dung | Ý nghĩa khi lựa chọn |
|---|---|---|
| Kinh nghiệm dân gian | Lá cho lỵ, tiêu chảy; dùng ngoài khi đau nhức | Tham khảo đúng bộ phận và tình trạng |
| Thử nghiệm kháng khuẩn | Dịch chiết lá, một số chủng vi khuẩn | Cơ sở nghiên cứu, chưa là phác đồ điều trị |
| Tế bào | Hợp chất khảo sát trên PC12 | Không chuyển thành công dụng thần kinh ở người |
| Tài liệu lâm sàng lịch sử | Dẫn mục về viên ba chẽ | Cần toàn văn trước khi kết luận hiệu quả |
Trong các nguồn đã sử dụng, chưa xác định được nghiên cứu trên người đủ chi tiết để cam kết hiệu quả của sản phẩm nguyên liệu. Nội dung vẫn có thể trình bày đầy đủ giá trị sử dụng truyền thống, đồng thời giữ đúng phạm vi bằng chứng.
Phân có máu, tiêu chảy kéo dài hoặc dấu hiệu mất nước cần tư vấn y tế. Các biểu hiện như uống kém, tiểu ít, lừ đừ hoặc mệt nhiều càng cần được đánh giá sớm.[10]
Trẻ nhỏ và người già yếu không nên tự chờ thử một vị thuốc. Người đang được điều trị không tự ngừng kháng sinh hoặc thuốc khác khi chưa trao đổi với người kê đơn.
Chưa có đủ dữ liệu để tự xác lập liều an toàn từ tài liệu liều người lớn. Không chia liều theo tỷ lệ tuổi hoặc cân nặng rồi xem là đã được kiểm chứng.
Phụ nữ mang thai, cho con bú và trẻ em nên được tư vấn trước khi dùng đường uống.
Dữ liệu tương tác lâm sàng riêng của ba chẽ còn hạn chế. Người có bệnh nền hoặc đang dùng nhiều thuốc cần cung cấp danh sách thuốc, chế phẩm và dược liệu cho người điều trị.
PROSEA ghi có hordenine trong lá, nhưng thông tin về một chất không xác lập tác dụng huyết áp của cả dược liệu.[6] Do đó, không quảng cáo ba chẽ ổn định huyết áp hoặc coi là phù hợp vô điều kiện với người bệnh tim mạch.
Nguồn phổ biến có lưu ý dùng kéo dài có thể liên quan táo bón.[9] Không tự tăng liều hoặc tiếp tục uống khi đã hết nhu cầu sử dụng.
Dừng dùng và được tư vấn nếu xuất hiện đau bụng tăng, buồn nôn, táo bón, phát ban hoặc khó chịu. Dùng ngoài cần dừng khi da đỏ, ngứa hoặc sưng tăng.
Giữ trong bao hoặc hộp kín, nơi khô thoáng, tránh nắng trực tiếp và nguồn ẩm. Lấy hàng bằng dụng cụ sạch, khô và đóng kín ngay sau mỗi lần mở.
Nếu mua lượng lớn, chia vào các hộp nhỏ phù hợp để hạn chế mở toàn bộ bao nhiều lần. Giữ nhãn và thông tin đơn hàng để tiện theo dõi.
Hạn sử dụng theo nhãn thực tế. Không dùng nguyên liệu có mốc, mùi chua, mùi lạ, côn trùng hoặc ẩm hỏng; không cố giữ phần đã mốc bằng cách rang hoặc sắc lại.
Mua sản phẩm tại Búpxanh, bạn đặt niềm tin đúng chỗ. Búpxanh có tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm về nguồn dược liệu và xuất xứ, có hóa đơn đầu vào và đầu ra hợp pháp.
Khách hàng có thể hỏi sản phẩm dưới các tên ba chẽ, niễng đực, ván đất hoặc đậu bạc đầu, ghi rõ bộ phận cần dùng khi mua theo đơn thuốc. Liên hệ để xem hàng và nhận báo giá theo khối lượng.
Có thể xem cách đặt hàng tại Trung tâm Dược liệu và thông tin về Búpxanh. Phí giao, thời gian nhận và điều kiện đổi trả được xác nhận theo đơn.
Nếu sử dụng cho một vấn đề sức khỏe cụ thể, nên tham vấn người có chuyên môn (bác sĩ YHCT/đông y).
Các tên quen thuộc gồm niễng đực, ván đất và đậu bạc đầu. Khi mua làm thuốc, cần gắn tên gọi với đúng loài Dendrolobium triangulare.
Lá là bộ phận dùng nổi bật trong tài liệu Việt Nam. Rễ và toàn cây có những ghi nhận khác, không dùng chung liều lá.
Hướng sử dụng truyền thống nổi bật là lỵ, tiêu chảy và một số cách dùng ngoài khi đau nhức, bong gân. Hoạt tính kháng khuẩn được ghi nhận trong thử nghiệm dịch chiết lá.
Đỗ Tất Lợi ghi 30–50g/ngày cho cách dùng dân gian trong kiết lỵ. Đây là liều theo mục đích cụ thể, không phải lượng uống thường xuyên hoặc liều cho trẻ.
Không. Nước sắc không có công thức bù điện giải chuẩn của ORS; khi tiêu chảy cần ưu tiên bù nước và đánh giá mất nước.
Không tự quy đổi. Công thức lá giã không cung cấp tỷ lệ tương đương cho bột hoặc lá khô; cần hướng dẫn phù hợp.
Không. Hai loài thuộc hai họ khác nhau, không thay thế công dụng hoặc bài thuốc cho nhau.
Không tự dùng để xử lý rắn cắn. Cần đưa người bị cắn đến cơ sở cấp cứu ngay, tránh trì hoãn bằng uống hoặc đắp lá.
Liên hệ Búpxanh để nhận báo giá và lựa chọn khối lượng theo dạng hàng cần mua.
Kiểm duyệt chuyên môn: Trần Văn Bằng – Y sĩ Y học cổ truyền.
Người gửi / điện thoại
ĐC: E67 Đường Phú Thuân , Phường Phú Thuận, Quận 7, Hồ Chí Minh
GPKD: 41G8026476 ngày 30/07/2015 - MST: 037085015723
Email:duoclieubupxanh@gmail.com
Website: https://trungtamduoclieu.vn