Giá: 180.000 VND
Đánh giá 1 lượt đánh giá
Bạch mao căn khô là thân rễ cây cỏ tranh, thường dùng trong y học cổ truyền với công năng thanh nhiệt, lương huyết và lợi tiểu. Sản phẩm Búpxanh đóng túi 1kg, phù hợp mua theo đơn hoặc hướng dẫn chuyên môn. Cần phân biệt dược liệu khô với dạng tươi và mao căn thán; liều dùng tùy trường hợp, thận trọng khi mang thai hoặc có bệnh nền.
Bạch mao căn khô, thường gọi rễ cỏ tranh khô, là dược liệu chế biến từ thân rễ cây cỏ tranh. Sản phẩm dùng trong thuốc sắc, một số phương phối hợp và cách nấu nước thảo dược theo hướng dẫn phù hợp.
Trong y học cổ truyền, bạch mao căn được biết đến với công năng thanh nhiệt, lương huyết và lợi tiểu. Dạng sao đen còn được ghi nhận trong mục đích chỉ huyết. Khi mua, cần chọn đúng dạng vì bạch mao căn khô thông thường, thân rễ tươi và mao căn thán có cách sử dụng khác nhau.

| Thông tin | Chi tiết |
|---|---|
| Tên sản phẩm | Bạch mao căn khô |
| Tên thường gọi | Rễ cỏ tranh khô |
| Bộ phận dùng | Thân rễ |
| Dạng hàng | Dược liệu khô; xác nhận dạng đoạn hoặc dạng cắt đang cung cấp |
| Quy cách trên trang | Túi 1kg |
| Mã sản phẩm | bmcbx |
| Đơn vị cung cấp | Búpxanh |
Sản phẩm phù hợp người cần dược liệu khô để sử dụng theo đơn hoặc hướng dẫn chuyên môn. Không mặc định túi hàng là mao căn thán, dạng bột hay trà túi lọc.
Bạch mao căn là vị thuốc từ cây cỏ tranh, tên khoa học thường dùng hiện nay Imperata cylindrica (L.) Raeusch., thuộc họ Lúa – Poaceae, còn được gọi Gramineae trong tài liệu cũ. Những tài liệu Việt Nam trước đây có thể ghi tên Imperata cylindrica Beauv.
Tên dược liệu thường gặp là Rhizoma Imperatae hoặc Imperatae Rhizoma. Chữ “rễ” trong tên thông dụng không phản ánh đầy đủ cấu trúc thực vật: phần được dùng là thân rễ, mọc dưới đất, có đốt và dấu vết của lá vảy.
Vì vậy, mô tả chính xác nhất cho hàng bán là bạch mao căn khô – thân rễ cỏ tranh. Không gọi là toàn cây cỏ tranh khô và không lấy lá, hoa hoặc rễ của một loại cỏ khác làm hàng thay thế.
| Tên gọi | Dạng dược liệu | Cách hiểu khi mua |
|---|---|---|
| Sinh mao căn | Thân rễ tươi trong ngữ cảnh những phương có ghi dạng tươi | Không lấy lượng tươi áp dụng nguyên vẹn cho hàng khô |
| Bạch mao căn khô | Thân rễ đã làm khô, có thể cắt đoạn | Dạng sản phẩm trong bài |
| Mao căn thán | Thân rễ đã sao đen theo phương pháp bào chế | Dạng riêng, cần đúng yêu cầu đơn thuốc |
| Hoa cỏ tranh | Bộ phận hoa | Không dùng chung liều hoặc công năng với thân rễ |
Hàng thường gồm những đoạn thân rễ nhỏ, dài, trắng ngà hoặc vàng nhạt. Bề mặt có đốt và nếp nhăn dọc, chất dai, mặt bẻ có sợi. Mùi không nổi bật; sắc màu và kích thước thay đổi theo dạng cắt và lô hàng.
Những đặc điểm này giúp kiểm tra dạng dược liệu, nhưng không thay thế định danh khi nghi ngờ lẫn loại cỏ khác. Khi cần hàng đúng một quy cách để sắc hoặc sản xuất, nên thông báo rõ yêu cầu độ dài và dạng nguyên liệu.
Màu trắng không đủ để kết luận hàng sạch hoặc hoạt chất cao. Không rửa, sao lại hoặc trộn phần mốc với hàng tốt để tiếp tục dùng. Người mua cũng không nên chọn nguyên liệu chỉ bằng hình ảnh trên mạng khi đang có một cây cỏ tự đào chưa xác định đúng loài.
Thân rễ được làm sạch, bỏ phần không dùng và làm khô. Tài liệu chế biến vị thuốc mô tả dạng cắt đoạn và dạng sao đen. Bào chế sao đen cần giữ đặc điểm của dược liệu theo phương pháp, khác với đốt cháy hoàn toàn thành tro.
Với sản phẩm khô thông thường, cần xác nhận dạng thực giao. Không tự coi hàng màu sẫm là mao căn thán đã được bào chế đúng. Khi đơn ghi dạng sao đen, nên đặt đúng dạng thay vì tự rang bằng chảo theo cảm giác.
Sự khác biệt dạng bào chế ảnh hưởng mục đích lựa chọn trong Đông y. Đây cũng là lý do không đưa một hướng dẫn chung cho tất cả sản phẩm có chữ bạch mao căn.
Thân rễ có các loại đường tự nhiên và những nhóm hợp chất được nghiên cứu như phenolic, flavonoid, triterpenoid. Các tổng quan về cây cỏ tranh còn khảo sát nhiều bộ phận, nên khi áp dụng cho sản phẩm cần xem rõ nghiên cứu sử dụng thân rễ, lá hay toàn cây.
Lượng hoạt chất phụ thuộc mẫu và phương pháp chiết. Bài này không gán một tỷ lệ flavonoid, kali hoặc hợp chất cụ thể cho túi hàng Búpxanh khi chưa có kiểm nghiệm phù hợp.
Nước sắc, chiết xuất cồn và chất tinh khiết có thể khác nhau rõ về thành phần. Không coi một kết quả trên chất tách chiết là hiệu quả chắc chắn của lượng thân rễ khô đem nấu ở nhà.

Bạch mao căn được ghi vị ngọt, tính hàn. Tài liệu có những cách liệt kê quy kinh khác nhau: sách Việt Nam cũ nhắc Tâm, Tỳ, Vị; chuyên luận dược liệu khác còn ghi Thận, Bàng quang hoặc Phế.
Công năng nhất quán được nhắc nhiều là thanh nhiệt, lương huyết và lợi tiểu. Việc quy kinh thuộc hệ lý luận Đông y, không phải bằng chứng trực tiếp rằng dược liệu điều trị mọi bệnh của tim, phổi hoặc thận.
Theo Đông y, bạch mao căn được lựa chọn trong một số phương khi có biểu hiện nhiệt, bứt rứt và khát. Đây là cách dùng cần xét thể trạng, không đồng nhất với việc ai cảm thấy “nóng trong” cũng uống nhiều dược liệu tính hàn.
Khát kéo dài có thể liên quan thiếu dịch, thuốc đang dùng, đường huyết hoặc nguyên nhân khác. Khi sử dụng để chăm sóc sức khỏe, nên quan sát toàn bộ tình trạng thay vì coi khát là dấu hiệu đủ để tự chọn bài thuốc.
Người lạnh bụng, tiêu hóa kém hoặc phân lỏng cần được đánh giá trước. “Thanh nhiệt” cũng không có nghĩa phải uống nước thuốc lạnh; cách dùng cần theo hướng dẫn và khả năng dung nạp.
Bạch mao căn thường được nhắc trong phương lợi tiểu cho tiểu ít, khó chịu đường tiểu hoặc thủy thấp có biểu hiện nhiệt. Công năng cổ truyền này là cơ sở lựa chọn vị thuốc trong một số đơn, nhưng không xác định được nguyên nhân tiểu ít chỉ từ triệu chứng.
Tiểu ít có thể đi cùng mất nước, tắc nghẽn hoặc bệnh tim, gan, thận. Người bí tiểu, đau nhiều hoặc phù tăng cần khám, không tự tăng nước thuốc để “thông tiểu”. Người đã được yêu cầu hạn chế dịch phải được hướng dẫn lượng nước uống riêng.
Trong nhóm dược liệu cùng được nhắc về đường tiểu, râu ngô và mã đề có bộ phận dùng, liều và lưu ý riêng. Không tự ghép tất cả thành một thang chỉ vì có công dụng gần nhau.
Tài liệu cổ ghi nhận bạch mao căn trong những chứng liên quan huyết nhiệt. Dạng mao căn thán được tài liệu bào chế nhấn mạnh công năng chỉ huyết.
Những tên như nục huyết, thổ huyết hoặc niệu huyết cần hiểu trong ngữ cảnh cổ truyền. Nôn ra máu, tiểu ra máu hoặc ho ra máu cần được đánh giá y tế, không dùng nước sắc làm cách tự xử trí tại nhà. Chảy máu có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân không thuộc huyết nhiệt.
Không lấy công năng chỉ huyết để hướng dẫn đắp thân rễ khô hoặc bột chưa kiểm soát lên vết thương. Dùng đường uống theo đơn và chăm sóc vết thương là hai vấn đề khác nhau.
Hoàng đản xuất hiện trong tài liệu chủ trị cổ truyền của bạch mao căn. Khi diễn đạt cho người đọc hiện nay, có thể hiểu đây là ghi nhận trong các phương dành cho vàng da, vàng mắt và một số biểu hiện liên quan gan mật, lựa chọn theo biện chứng.
Ghi nhận đó không chứng minh bạch mao căn khô chữa viêm gan B, viêm gan C hoặc giải quyết tắc mật. Vàng da mới xuất hiện cần xác định nguyên nhân; không tự dùng liều sinh mao căn cao từ một kinh nghiệm trên mạng cho sản phẩm khô.
Một số phương cổ có sinh mao căn trong bối cảnh phế nhiệt hoặc ho suyễn. Vai trò của thân rễ trong phương cần xem cùng các vị khác và thể bệnh; không diễn giải thành điều trị mọi loại hen.
Khó thở, cơn hen hoặc ho có máu không phải tình huống tự thử trà thảo dược. Với ho thông thường kéo dài, cần xác định nguyên nhân trước khi lựa chọn dược liệu.
Rễ cỏ tranh là nguyên liệu quen thuộc trong một số cách nấu nước thảo dược. Khi dùng như đồ uống, cần nguyên liệu phù hợp thực phẩm, nước sạch và lượng vừa phải theo hướng dẫn.
Đồ uống “nước mát” không đồng nghĩa thải độc toàn cơ thể. Không dùng thay toàn bộ nước uống hoặc coi đó là phương điều trị bệnh gan, thận chưa chẩn đoán. Nếu phối hợp nhiều nguyên liệu, cần hiểu đặc điểm của từng vị và lưu ý với người có bệnh nền.
Bạch mao căn khô phù hợp nhất với người mua theo đơn có vị thuốc này, hoặc đã được hướng dẫn cách sử dụng cho thể bệnh phù hợp. Người muốn nấu nước thảo dược cần xác nhận sản phẩm phù hợp mục đích đó và không lạm dụng như một phương chữa bệnh.
Các tình huống thầy thuốc có thể cân nhắc gồm biểu hiện nhiệt, phiền khát, thủy thấp hoặc những chứng huyết nhiệt trong phạm vi biện chứng. Không tự phân loại bệnh nặng rồi tăng liều; mức độ triệu chứng không thay thế khám và đánh giá nguyên nhân.
| Nguồn tài liệu | Lượng được ghi nhận | Dạng dùng |
|---|---|---|
| Phụ lục hướng dẫn chế biến vị thuốc của Bộ Y tế năm 2017 | 9–30g/ngày | Thuốc sắc, dược liệu khô |
| Đỗ Tất Lợi, mục Cỏ tranh | 10–40g | Thuốc sắc |
| Hướng dẫn năm 2017 | 30–60g/ngày | Dạng tươi |
Khoảng liều trong tài liệu không phải chỉ định cá nhân. Đối với sản phẩm khô, dùng lượng của dạng khô theo đơn. Không lấy 150–200g thân rễ tươi trong một kinh nghiệm khác để áp dụng cho túi này, và không tự cộng lượng của nhiều phương.
Cân bằng đơn vị gram, kiểm tra và làm sạch theo hướng dẫn của sản phẩm hoặc đơn thuốc. Cho vào ấm cùng những vị được chỉ định, dùng nước sạch và thực hiện lượng nước, thời gian, số lần sắc của đơn.
Lượng nước không chỉ phụ thuộc một vị mà còn phụ thuộc cả thang và yêu cầu hạn chế dịch của người bệnh. Vì vậy, không lấy một tỷ lệ nước cố định trên mạng để áp dụng cho mọi trường hợp. Với phương có nguồn ghi lượng nước cụ thể, giữ đúng thông tin của phương đó.
Chia lần uống theo hướng dẫn, không uống toàn bộ lượng của cả ngày trong một lần. Nước thuốc không nên quá nóng. Nếu gây đau bụng, buồn nôn hoặc tiêu chảy, cần ngừng và hỏi lại người hướng dẫn.
Một số phương có thể dùng dạng hãm, nhưng hãm nhanh vài phút không mặc định tương đương thuốc sắc. Thân rễ khô cần cách chuẩn bị phù hợp; dạng bột hoặc trà thành phẩm có hướng dẫn riêng.
Không tự ghi một “liều uống giải khát” cho trẻ em từ liều người lớn. Với người có đái tháo đường, hạn chế thêm đường hoặc mật theo thói quen; cách dùng có chất tạo ngọt cần xét riêng.
Thời gian theo đơn và diễn biến từng người, không có một liệu trình cố định cho mọi mục đích. Nếu triệu chứng kéo dài hoặc xuất hiện dấu hiệu mới, nên đánh giá lại. Không dùng liên tục nhiều tháng với lý do dược liệu quen thuộc trong nước mát.
Chuẩn bị lượng dùng trong ngày, đựng trong vật chứa sạch có nắp. Không để lâu ở nhiệt độ phòng; nếu cần, làm nguội phù hợp rồi bảo quản lạnh. Không uống nước có mùi lạ, lên men hoặc nghi hỏng, và không dùng nước cũ pha tiếp mẻ mới.
Các nội dung dưới đây là tài liệu tham khảo để hiểu cách phối hợp. Thầy thuốc cần chọn theo chẩn đoán, thể bệnh và thuốc đang sử dụng; bài không xây dựng phương mới.
Nguồn ghi hỗn hợp râu ngô 40g, xa tiền 25g, rễ cỏ tranh 30g, hoa cúc 5g. Trộn đều; lấy 50g hỗn hợp, pha với 750ml nước, chia dùng trong ngày.
Điểm quan trọng là 50g hỗn hợp, không phải 50g riêng bạch mao căn. Nếu hỗn hợp được chia đồng đều, phần bạch mao căn trong lượng đó là 15g. Bản trích ghi “xa tiền” mà không làm rõ bộ phận, nên cần người kê đơn xác định; không tự chuyển thành “xa tiền tử” hoặc thay bằng một lượng thân lá mã đề.
Nguồn cũ có liều trẻ em, nhưng bài này không chuyển thành khuyến nghị cho trẻ hiện nay. Trẻ có tiểu ít hoặc bệnh tiết niệu cần hướng dẫn riêng.
Bài “Lá dâu – vị thuốc trị nhiều bệnh” được CHAC đăng lại từ nguồn Sức khỏe & Đời sống ghi: tang diệp 6g, cúc hoa 6g, đạm trúc diệp 30g, bạch mao căn 30g, bạc hà 4g, dùng dạng hãm.
Phương được ghi trong bối cảnh cảm mạo phong nhiệt có sốt nóng, khát và ho khan ít đờm. Đây là cách dùng theo nguồn, không phải thuốc uống chung cho mọi trường hợp sốt. Không tự thêm đường khi cần kiểm soát đường huyết.
Tài liệu thông tin dược liệu của Nhà thuốc An Khang ghi bạch mao căn 28g và lô căn 28g, dùng 800ml nước, đun còn 400ml, chia nhiều lần, trong mục kinh nghiệm nôn hoặc ợ do nhiệt.
Lô căn là dược liệu khác với bạch mao căn. Nôn kéo dài, nôn máu hoặc không giữ được nước cần khám, không tự áp dụng phương này để trì hoãn đánh giá nguyên nhân.
Tài liệu Đỗ Tất Lợi nhắc Như thần thang với sinh mao căn dùng cho phế nhiệt trong ngữ cảnh cổ phương. Bản trích chưa cung cấp lượng gram đầy đủ để quy thành đơn khô, nên bài không tự thêm liều 50g hoặc đổi thành sản phẩm khô.
Đây là một ghi nhận lịch sử, không phải hướng dẫn điều trị cơn hen tại nhà.
Tài liệu cổ có ghi bạch mao căn phối hợp khương thán và mật trong mục niệu huyết. Khi nguồn chưa ghi lượng rõ, không tự lấy một công thức từ trang bán hàng rồi gọi đó là liều đã được xác minh của cổ phương.
Với tiểu ra máu, người bệnh cần đánh giá nguyên nhân trước. Nếu thầy thuốc lựa chọn phương, phải xác định dạng bạch mao căn, cách bào chế khương thán, lượng và thời gian riêng.
Các tổng quan về Imperata cylindrica mô tả nghiên cứu chiết xuất hoặc hợp chất trong những mô hình viêm và oxy hóa. Có công bố khảo sát hợp chất phenolic từ thân rễ và hoạt tính chống viêm.
Những kết quả giúp tìm hiểu cơ chế nhưng không đồng nghĩa uống thân rễ khô sẽ xử lý mọi bệnh viêm. Cần phân biệt thử nghiệm hóa học, tế bào, động vật và nghiên cứu trên người.
Một số hướng tiền lâm sàng khảo sát bảo vệ gan, thận, chuyển hóa đường và điều hòa miễn dịch. Nhiều nghiên cứu dùng chiết xuất hoặc chất đã tách, không phải sản phẩm thân rễ khô bán lẻ.
Không chuyển những hướng này thành tuyên bố bạch mao căn khô chữa viêm gan, phục hồi thận, ổn định đường huyết hoặc tăng miễn dịch ở mọi người. Người suy gan, suy thận và người dùng thuốc tiểu đường cần hướng dẫn riêng.
Có dữ liệu tiền lâm sàng về những hoạt tính phù hợp với công năng cổ truyền. Tuy nhiên, đánh giá trên người có thể cho kết quả khác do đối tượng và dạng dùng. Công dụng trong tài liệu Đông y vẫn cần được trình bày đúng bối cảnh, không bỏ qua nghiên cứu không ghi nhận lợi ích.
Dữ liệu về máu còn đòi hỏi xem chỉ tiêu cụ thể, dạng chế biến và mô hình. Không tự suy luận “cầm máu tự nhiên” nghĩa là dùng được an toàn khi đang uống thuốc chống đông.
Doan và cộng sự năm 1992 khảo sát các dược liệu truyền thống Việt Nam gồm cỏ tranh trong mô hình mù đôi, có giả dược, bắt chéo. Báo cáo không ghi nhận tăng lượng nước tiểu 12 giờ, 24 giờ hoặc bài tiết natri trong điều kiện thử chuẩn hóa.
Kết quả này không đủ để phủ nhận mọi cách dùng cổ truyền, nhưng cũng không cho phép khẳng định thân rễ cỏ tranh đã được chứng minh lợi tiểu ở người. Cần nghiên cứu thêm ở nhóm bệnh và dạng dùng phù hợp.
Cho và cộng sự năm 2017 nghiên cứu YY-312, phối hợp chiết xuất từ cỏ tranh với Citrus unshiu và Evodia officinalis. 60 người thừa cân được phân nhóm, theo dõi 12 tuần; 39 người hoàn tất. Hai nhóm đều được hướng dẫn giảm năng lượng ăn vào.
Nghiên cứu ghi nhận cải thiện một số chỉ tiêu mỡ và cân nặng ở nhóm chế phẩm. Tuy nhiên, đây là chiết xuất phối hợp, có số người bỏ theo dõi đáng kể; không chứng minh bạch mao căn khô dùng đơn lẻ giúp giảm cân. Bài không dùng kết quả này làm công dụng bán hàng.
Các tổng quan hiện đại nhấn mạnh còn thiếu thử nghiệm lớn, chất lượng tốt về các mục đích truyền thống như bệnh thận, viêm và xuất huyết. Hàng khô trên trang này không được mặc định đã thử trực tiếp như một chế phẩm nghiên cứu.
| Mức bằng chứng | Ý nghĩa khi đọc bài |
|---|---|
| Y học cổ truyền, kinh nghiệm | Giải thích công năng và lựa chọn theo thể bệnh |
| Tiền lâm sàng | Gợi ý hoạt tính, chưa xác lập hiệu quả ở người |
| Thử nghiệm trên người | Cần xem đối tượng, dạng dùng và kết quả cụ thể |
| Chế phẩm phối hợp | Kết quả thuộc toàn chế phẩm, không quy hết cho một vị |
Người lạnh bụng, tiêu hóa yếu hoặc phân lỏng cần thận trọng với dược liệu tính hàn. Tài liệu bào chế cũng có lưu ý tránh dùng khi không có thể nhiệt phù hợp. Không tự coi mọi tình trạng khô khát hoặc khó chịu là cần thanh nhiệt.
Thai phụ cần thận trọng theo tài liệu; người cho con bú và trẻ nhỏ cần hướng dẫn riêng khi dùng với mục tiêu điều trị. Không áp dụng công thức hoặc liều người lớn cho các nhóm này, và không dùng món nước mát đậm đặc để xử trí bệnh ở trẻ.
Người suy gan, suy thận, bệnh tim và người phải hạn chế dịch cần trao đổi trước khi sử dụng. Cung cấp danh sách thuốc, nhất là thuốc lợi tiểu, thuốc ảnh hưởng điện giải, thuốc tiểu đường hoặc thuốc chống đông, để người điều trị đánh giá.
Thông tin tương tác lâm sàng của thân rễ dùng riêng còn hạn chế. Các lưu ý trên là thận trọng theo tình trạng người bệnh, không phải khẳng định đã có tương tác được chứng minh với mọi thuốc trong nhóm.
Nghiên cứu độc tính trên động vật sử dụng chiết xuất có kết quả thay đổi theo liều, thời gian và dung môi. Những mức thử cao trên động vật không xác lập mức tối đa để người uống dược liệu khô.
Ngừng nếu xuất hiện phát ban, đau bụng, buồn nôn hoặc tiêu chảy sau dùng và hỏi nhân viên y tế. Khó thở, sưng môi hoặc lưỡi cần cấp cứu.
Nôn máu, tiểu máu, ho ra máu, chảy máu nhiều, khó thở, bí tiểu, phù tăng nhanh hoặc vàng da mới xuất hiện cần đánh giá y tế. Không tăng lượng dược liệu để che lấp triệu chứng. Với chảy máu, việc ghi nhận công năng trong cổ phương không thay thế đánh giá nguyên nhân.
Để nơi khô, thoáng, tránh nắng và nguồn hơi nước. Đóng kín sau mở túi; có thể chia lượng 1kg vào các hộp nhỏ sạch, khô để giảm số lần mở toàn bộ hàng. Không dùng dụng cụ ướt lấy dược liệu và không cho phần đã ngâm trở lại bao.
Hạn sử dụng theo nhãn thực tế. Loại bỏ hàng mốc, mọt, ẩm hoặc đổi mùi. Không tự tính hạn dùng từ ngày mua hay phơi lại phần hỏng để sử dụng.

Búpxanh có tư cách pháp nhân chịu trách nhiệm về nguồn dược liệu và xuất xứ, có hóa đơn đầu vào và đầu ra hợp pháp. Khi đặt, khách hàng ghi rõ bạch mao căn khô, quy cách 1kg, số lượng và nhu cầu hóa đơn. Nếu đơn yêu cầu mao căn thán, cần đặt đúng dạng đã bào chế.
Đặt tại trang sản phẩm hoặc xem hướng dẫn đặt hàng tại Búpxanh. Thông tin giao nhận, ưu đãi và đổi trả theo chính sách được xác nhận khi chốt đơn.
Có thể tham khảo bài địa chỉ bán bạch mao căn – rễ cỏ tranh. Trước khi dùng với mục tiêu điều trị, nên tham vấn người có chuyên môn (bác sĩ YHCT/đông y).
Đúng theo tên thông thường. Bộ phận chính xác là thân rễ cây cỏ tranh đã làm khô.
Không. Mao căn thán là dạng sao đen theo phương pháp bào chế, cần xác nhận riêng khi mua.
Tài liệu chế biến năm 2017 ghi 9–30g/ngày dạng khô, còn Đỗ Tất Lợi ghi 10–40g dạng sắc. Lượng thực dùng cần theo đơn và tình trạng cụ thể.
Không. Dạng tươi có lượng nước và bối cảnh sử dụng khác; không tự quy đổi hoặc giữ nguyên liều.
Đây là công năng cổ truyền, nhưng thử nghiệm trên người khỏe mạnh đã nêu không ghi nhận lợi ích trong điều kiện nghiên cứu. Không dùng như một cách bảo đảm làm tăng nước tiểu.
Không có căn cứ được kiểm tra trong bài để khẳng định sản phẩm khô này chữa những bệnh đó. Công dụng cần được hiểu đúng dạng dùng và mức bằng chứng.
Không nên mặc định như vậy. Lượng dược liệu, lượng nước và thời gian theo hướng dẫn, nhất là khi có bệnh nền hoặc đang dùng thuốc.
Trang giới thiệu túi 1kg. Khách hàng xác nhận dạng cắt đang cung cấp trước khi đặt.
Người gửi / điện thoại
ĐC: E67 Đường Phú Thuân , Phường Phú Thuận, Quận 7, Hồ Chí Minh
GPKD: 41G8026476 ngày 30/07/2015 - MST: 037085015723
Email:duoclieubupxanh@gmail.com
Website: https://trungtamduoclieu.vn