Giá: 280.000 VND
Đánh giá 6 lượt đánh giá
Bạch chỉ khô phiến là rễ dược liệu thái lát, có mùi thơm đặc trưng, thuận tiện cân chia và sắc theo đơn. Theo y học cổ truyền, vị thuốc giúp giải biểu, khu phong, chỉ thống, thông khiếu và táo thấp. Búpxanh cung cấp thông tin dạng hàng, khối lượng và giá bán. Liều dùng cần hướng dẫn chuyên môn, đặc biệt khi đang dùng thuốc hoặc mang thai.
Bạch chỉ khô phiến là phần rễ dược liệu được thái lát và làm khô, thuận tiện để cân chia, phối hợp và sắc theo đơn. Vị thuốc có mùi thơm đặc trưng, vị cay, tính ấm, thường được dùng trong y học cổ truyền với công năng giải biểu, khu phong, chỉ thống, thông khiếu, táo thấp và tiêu thũng bài nùng.
Nhu cầu sử dụng thường gặp là tìm hiểu các bài thuốc liên quan đau đầu vùng trán, nghẹt mũi, đau răng, khí hư thuộc chứng thấp và mụn nhọt sưng tấy. Để dùng phù hợp, cần xác định chứng trạng, dạng thuốc và liều của toàn phương; không chỉ chọn vị thuốc theo một triệu chứng riêng lẻ.

Giá bán: liên hệ Búpxanh để được báo giá theo trọng lượng đặt mua.
Dạng sản phẩm: bạch chỉ khô thái phiến – rễ thái lát. Quy cách, trọng lượng và hạn dùng theo nhãn hàng thực tế. Khách hàng cần dược liệu cho đơn thuốc nên dùng đúng khối lượng được hướng dẫn, không suy từ khối lượng túi thành liều trong ngày.
| Thông tin | Nội dung |
|---|---|
| Tên sản phẩm | Bạch chỉ khô phiến |
| Bộ phận bán | Rễ dược liệu thái lát, làm khô |
| Tên khoa học thường dùng | Angelica dahurica |
| Danh pháp được Kew chấp nhận | Angelica dahurica (Hoffm.) Benth. & Hook.f. ex Franch. & Sav. |
| Họ thực vật | Apiaceae – họ Hoa tán |
| Tên dược liệu quốc tế | Angelicae Dahuricae Radix; Radix Angelicae dahuricae |
| Tên gặp trong y văn | Bai Zhi, chỉ hương, hương bạch chỉ |
| Tính vị truyền thống | Cay, ấm |
| Quy kinh thường được ghi nhận | Phế, Vị, Đại trường |
Một số tài liệu cũ về bạch chỉ còn mô tả nguyên liệu từ Angelica anomala. Vì vậy, danh pháp của loài trong nghiên cứu phải được đối chiếu với nguyên liệu thực tế, không mặc định mọi hàng mang tên bạch chỉ đều tương đương mẫu nghiên cứu.
“Nam bạch chỉ” xuất hiện trong một số tài liệu dân gian cho cây khác, không phải căn cứ để thay thế rễ Angelica dahurica. Bạch cập cũng là một vị thuốc khác, từ cây thuộc họ Lan, có bộ phận và công năng riêng.
Tên gần giống hoặc phiến có màu nhạt không đủ để dùng thay nhau. Bạch chỉ cần được nhận diện theo rễ và đặc điểm dược liệu phù hợp.
Phiến bạch chỉ thường có hình tròn hoặc bầu dục, tùy hướng cắt và đường kính rễ. Phần vỏ có màu nâu nhạt; mặt cắt trắng đến trắng ngà, có thể thấy các điểm hoặc cấu trúc tiết trên lát. Phiến khô tương đối cứng, có mùi thơm đặc trưng.
Dạng thái phiến giúp quan sát mặt cắt và cân thuốc thuận tiện. Độ dày giữa các lát có thể khác nhau; không lấy số lát để tính liều vì kích thước và trọng lượng từng phiến không đồng nhất.
Khi nhận hàng, kiểm tra đúng tên, dạng phiến, trọng lượng và tình trạng bao bì. Không chọn chỉ theo màu trắng tinh hoặc mùi thật mạnh; những dấu hiệu đó không tự chứng minh chất lượng hay hàm lượng hoạt chất.
Loại bỏ hàng có mốc, mùi lạ, ẩm mềm, sâu mọt hoặc biến đổi bất thường. Không nếm thử để xác định nguyên liệu và không dùng dược liệu mất nhãn khi chưa đối chiếu lại.

Rễ là bộ phận dùng chủ yếu. Nguyên liệu được làm sạch, xử lý theo cách bào chế phù hợp, thái phiến và làm khô. Thông tin sản phẩm cần phản ánh đúng công đoạn đã thực hiện.
Phiến khô không đồng nghĩa với thuốc đã chuẩn hóa hàm lượng, cao chiết hoặc chế phẩm dùng ngoài. Không gọi hàng là “không xông lưu huỳnh”, “đã kiểm nghiệm” hoặc có hàm lượng tinh dầu cụ thể khi chưa có thông tin tương ứng.
Trong đơn thuốc, cần sử dụng đúng dạng được kê. Không tự đổi phiến sang tinh dầu, cao hoặc viên rồi giữ nguyên số gam.
Nhóm thành phần được quan tâm nhiều gồm coumarin, đặc biệt các furanocoumarin như imperatorin, isoimperatorin, oxypeucedanin, byakangelicin và một số chất liên quan. Đây là các thành phần xuất hiện trong nhiều nghiên cứu hóa học và hoạt tính sinh học của rễ.
Tên nhóm coumarin không có nghĩa mọi chất đều có tác dụng giống thuốc chống đông warfarin. Hoạt tính phải được đánh giá với từng chất, nồng độ và mô hình.
Rễ có thành phần bay hơi góp phần tạo mùi thơm. Nghiên cứu cũng ghi nhận những hợp chất phenolic và các nhóm khác, nhưng thành phần thay đổi theo mẫu và cách chiết.
Dữ liệu của dịch chiết cồn, tinh dầu hoặc hợp chất tinh khiết không đại diện cho một lượng phiến dùng sắc. Mùi thơm giúp nhận diện cảm quan, không phải phương pháp định lượng hoạt chất.
Nếu muốn công bố hàm lượng imperatorin, tinh dầu hoặc một chỉ tiêu hóa học khác, cần kết quả của mẫu hàng tương ứng. Không dùng tỷ lệ trong sách hoặc bài nghiên cứu làm thông số chung cho sản phẩm chưa kiểm nghiệm.

Bạch chỉ thường được phối hợp trong chứng cảm mạo phong hàn, có đau đầu, ngạt mũi và những biểu hiện phù hợp. “Giải biểu” nói đến xử lý phần bệnh ở biểu theo lý luận Đông y; “khu phong, tán hàn” là công năng truyền thống, không đồng nghĩa với thuốc kháng virus.
Không phải mọi cơn sốt hoặc cảm cúm đều dùng cùng phương. Người sốt cao, khó thở hoặc triệu chứng nặng cần đánh giá nguyên nhân và hướng điều trị phù hợp.
“Chỉ thống” là giảm đau. Bạch chỉ được nhắc đến nhiều trong đau đầu vùng trán, quanh cung mày và vùng mặt theo chứng trạng thích hợp. Đây là lý do vị thuốc xuất hiện trong các phương phối xuyên khung, khương hoạt hoặc phòng phong.
Vị trí đau giúp tham khảo trong biện chứng nhưng không đủ chẩn đoán. Đau đầu mới xuất hiện dữ dội, kèm yếu liệt, rối loạn thị lực hoặc sau chấn thương cần khám ngay.
Bạch chỉ xuất hiện trong phương điều trị tỵ uyên, thường mô tả chảy dịch mũi đục, nghẹt mũi và đau đầu vùng mặt. Phối hợp với tân di, thương nhĩ tử là một hướng sử dụng đã được ghi nhận.
“Thông khiếu” trong ngữ cảnh này không có nghĩa chữa mọi dạng viêm xoang hoặc viêm mũi. Dị ứng, nhiễm trùng và bất thường cấu trúc có cách xử lý khác nhau. Không dùng bột phiến để hít vào mũi hoặc pha nước nhỏ mũi tại nhà.
Tài liệu YHCT ghi nhận sử dụng bạch chỉ trong những phương giảm đau răng. Khi có sưng nóng, các vị phối hợp có thể khác với trường hợp phong hàn; không dùng một công thức cho mọi nguyên nhân đau.
Sâu răng, viêm tủy và áp xe cần chăm sóc nha khoa. Giảm đau tạm thời không có nghĩa ổ nhiễm trùng đã được xử lý; không nhét bột dược liệu vào hốc răng hoặc vùng lợi tổn thương.
Bạch chỉ được ghi nhận trong sử dụng với đới hạ theo chứng thấp. “Táo thấp” là một công năng Đông y, không tự xác lập tác dụng kháng nấm hoặc kháng khuẩn âm đạo.
Khí hư kèm ngứa, mùi bất thường, đau, đổi màu hoặc chảy máu cần khám phụ khoa. Không dùng nước sắc bạch chỉ để thụt rửa hoặc tự chẩn đoán nguyên nhân khí hư.
Tài liệu có ghi nhận bạch chỉ trong mụn nhọt sưng tấy và những phương liên quan mủ, tổn thương da. “Bài nùng” nói đến hướng xử lý mủ trong cách nhìn truyền thống; “sinh cơ” nói đến mô tổn thương phục hồi.
Vai trò vị thuốc phải đi cùng mức độ tổn thương và các vị phối hợp. Vết thương sâu, có mủ, sốt hoặc ở người tiểu đường cần chăm sóc phù hợp; không tự bôi phiến giã nát lên vết thương mở.
Nguồn phổ biến dược liệu có nhắc sử dụng bạch chỉ trong phương cho sưng đau tuyến vú giai đoạn đầu. Người cho con bú cần được đánh giá vì viêm vú có thể tiến triển thành áp xe; sốt hoặc đau tăng không nên chờ thuốc thang.
Một số y văn còn đề cập hôi miệng, kinh nguyệt hoặc chảy máu. Đây là các ghi nhận riêng, không nên chuyển thành một lời quảng cáo rằng sản phẩm dùng được cho mọi triệu chứng đó.
Công trình năm 2022 về dịch chiết Angelica dahurica khảo sát chuột có đau viêm thực nghiệm. Kết quả ghi nhận giảm quá nhạy cảm với kích thích cơ học và nhiệt, cùng tác động liên quan TRPV1.
Đây là nghiên cứu tiền lâm sàng, không phải thử nghiệm chứng minh phiến khô điều trị đau đầu hoặc đau răng ở người với một liều cố định. Kết quả giúp tìm hiểu cơ chế, chưa thay cho đánh giá nguyên nhân đau.
Nghiên cứu năm 2010 khảo sát alkaloid diên hồ sách cùng các phân đoạn từ bạch chỉ trên động vật. Một kết quả quan trọng là thay đổi nồng độ dl-tetrahydropalmatin trong huyết tương khi phối hợp.
Điều này cho thấy phối ngũ có thể tác động đến hấp thu hoặc mức tiếp xúc hoạt chất. Không coi “phối hợp giúp tăng tác dụng” là lý do tự tăng liều hoặc thêm nhiều dược liệu giảm đau.
Bạch chỉ đã được khảo sát ở dạng băng hoặc chế phẩm dùng ngoài. Kết quả của một công thức băng phụ thuộc nguyên liệu, cách chiết, mức độ sạch, nền bào chế và chăm sóc đi kèm.
Nguyên liệu phiến khô không tương đương với băng dùng nghiên cứu. Không dùng công bố này để hướng dẫn làm thuốc đắp cho loét tỳ đè hoặc loét tiểu đường tại nhà.
Nghiên cứu hóa học có khảo sát hợp chất từ bạch chỉ về hoạt tính liên quan tyrosinase và sắc tố. Đây là hướng phát triển thành phần, không chứng minh mặt nạ bột tự pha trị nám hoặc làm trắng an toàn.
Cần lưu ý nhóm furanocoumarin có quan ngại về nhạy cảm ánh sáng. Không pha bạch chỉ với chanh, rượu hoặc chất gây kích ứng để bôi rồi phơi nắng.
Tổng quan năm 2022 đề cập chống viêm, chống oxy hóa, kháng vi sinh vật, hoạt tính tế bào và những hướng chuyển hóa. Phần lớn dữ liệu thuộc mô hình thực nghiệm hoặc thành phần phân lập.
Không chuyển các hướng này thành công dụng sản phẩm đối với ung thư, viêm gan B, tiểu đường hoặc tăng huyết áp. Khi giới thiệu, cần giữ đúng đối tượng nghiên cứu và mức bằng chứng.

Gong, Niu và Pei công bố nghiên cứu năm 2016 trên 98 người có tổn thương tỳ đè giai đoạn I–II. Người tham gia được phân nhóm, cùng chăm sóc tổng thể; nhóm nghiên cứu dùng băng chứa bạch chỉ trong 4 tuần. Tác giả báo cáo kết quả thuận lợi so với đối chứng.
Đây là một nghiên cứu chế phẩm dùng ngoài, có nhóm đối chứng cụ thể, không đủ để khẳng định hiệu quả của mọi dạng bạch chỉ. Bài này tiếp cận tóm tắt nghiên cứu, chưa xác minh toàn văn quy trình bào chế và mọi chi tiết đánh giá.
Xuyên khung trà điều tán và Thương nhĩ tán là các phương có bạch chỉ được công bố trong tài liệu công thức. Việc một phương được dùng lâm sàng không có nghĩa mỗi vị có hiệu quả độc lập bằng toàn phương.
Trong phạm vi nguồn tra cứu, chưa xác định được thử nghiệm đủ tin cậy riêng cho bạch chỉ phiến bán lẻ ở từng bệnh đau đầu, viêm xoang, đau răng hoặc đới hạ. Nội dung truyền thống được trình bày theo công năng và chứng trạng, không cam kết kết quả điều trị.
| Nhóm ứng dụng | Mức ghi nhận | Giới hạn cho sản phẩm |
|---|---|---|
| Đau đầu vùng trán, cảm phong hàn, ngạt mũi | YHCT và phương có nguồn | Cần biện chứng; không dùng cho mọi nguyên nhân |
| Đau răng, đới hạ, sưng tấy | Kinh nghiệm và tài liệu chuyên môn | Cần xử lý nguyên nhân và chọn phối hợp |
| Giảm đau do viêm | Động vật, dịch chiết | Không quy thành liều phiến cho người |
| Tổn thương tỳ đè | Có thử nghiệm dùng băng chứa bạch chỉ | Chế phẩm nghiên cứu khác dược liệu thô |
| Làm đẹp, chống u và những hướng khác | Chủ yếu thành phần và mô hình thực nghiệm | Chưa xác lập công dụng tương ứng cho phiến khô |
Bạch chỉ phiến có thể được cân nhắc khi thầy thuốc lựa chọn vào đơn phù hợp cho chứng phong hàn, đau vùng đầu mặt hoặc những công năng đã nêu. Người cần nguyên liệu cho đơn thuốc nên dùng đúng dạng và lượng được kê.
Theo YHCT, người âm hư hỏa vượng hoặc nhiệt thịnh không nên tự dùng vị cay ấm. Người đau đầu tái diễn, có bệnh mũi xoang, răng hoặc phụ khoa cần chẩn đoán nguyên nhân, không chỉ dựa vào cảm giác “hợp thuốc”.
Trẻ nhỏ, thai phụ, người cho con bú, người suy gan, suy thận hoặc đang điều trị bệnh nặng cần hướng dẫn riêng. Người từng dị ứng với dược liệu hoặc chế phẩm bạch chỉ không tự thử lại.
Bệnh viện Y học cổ truyền TP.HCM ghi 3–9 g/ngày, dạng sắc hoặc tán bột, thường phối hợp các vị khác. Đỗ Tất Lợi ghi 5–10 g/ngày. Tổng quan năm 2022 dẫn Dược điển Trung Quốc 2020 ghi 3–10 g cho sử dụng đường uống.
Đây là những khoảng liều từ nguồn khác nhau, không cộng hoặc ghép thành một liều tùy ý. Với sản phẩm phiến, lượng thực tế theo đơn và tình trạng người dùng.
| Mục đích hoặc dạng | Thông tin liều |
|---|---|
| Phiến trong đơn sắc | Tham khảo 3–9 g/ngày theo nguồn bệnh viện; dùng theo đơn |
| Đau đầu, mũi xoang, đau răng | Không có một liều riêng cố định cho tất cả nguyên nhân; lượng vị theo toàn phương |
| Thuốc bột | Cần phân biệt bột một vị và bột toàn phương; không tính theo thìa |
| Cao, cốm hoặc viên | Theo hướng dẫn chế phẩm, không lấy số gam phiến thay thế |
| Dùng ngoài | Theo công thức và vị trí sử dụng; không có số gam chung cho mọi tổn thương |
Cân đúng lượng, làm sạch theo hướng dẫn và sắc cùng các vị trong đơn. Không ước lượng bằng số lát. Lượng nước, thời gian và thứ tự cho các vị cần theo phương cụ thể; những vị giàu thành phần bay hơi trong toàn phương có thể cần xử lý riêng.
Không tự ngâm phiến vào nước nóng như trà uống thay nước cả ngày. Không mặc định sắc đặc hơn sẽ tốt hơn, và không tự tăng liều khi triệu chứng chưa giảm.
Không có lịch dùng chung cho mọi người. Cách chia lần, uống trước hay sau ăn và thời gian dùng cần theo đơn. Nếu dùng một chế phẩm bào chế, ưu tiên hướng dẫn của chính chế phẩm đó.
Theo dõi triệu chứng và phản ứng mới xuất hiện. Đau đầu, nghẹt mũi hoặc đau răng kéo dài cần xem lại nguyên nhân; không liên tục gia tăng lượng bạch chỉ để duy trì giảm đau.
Các công thức sau là tài liệu tham khảo, không phải đơn kê sẵn cho mọi khách hàng. Những lượng khác liều vị đơn phản ánh công thức riêng; cần người có chuyên môn lựa chọn và bào chế.
Bài xuất xứ Thái bình huệ dân hòa tễ cục phương. Cơ quan quản lý y học cổ truyền thuộc Bộ Y tế và Phúc lợi Đài Loan công bố một công thức tham chiếu với tổng lượng dược liệu 24,5 g:
| Vị thuốc | Lượng tham chiếu |
|---|---|
| Bạch chỉ | 2 g |
| Cam thảo | 2 g |
| Khương hoạt | 2 g |
| Kinh giới | 4 g |
| Xuyên khung | 4 g |
| Tế tân | 1 g |
| Phòng phong | 1,5 g |
| Bạc hà | 8 g |
Nguồn mô tả công năng khu phong, chỉ thống và cách dùng dạng tán với nước trà sau ăn. Các bản công thức khác có thể khác tỷ lệ; không ghép số gam giữa các bản. Tế tân cần đúng nguyên liệu và hướng dẫn chuyên môn, không tự thay bằng cây tên gần giống.
Nguồn công thức tham chiếu từ cơ quan trên ghi xuất xứ Chứng trị chuẩn thằng, gồm tân di 8 g, thương nhĩ tử 4 g, bạch chỉ 16 g, bạc hà 1 g; thêm thông bạch 3 g và trà 2 g trong cách quy đổi được công bố. Nguồn có ghi riêng lượng phối chế dạng tán và cách dùng, khác với liều một vị.
Các số này dùng nhận diện công thức tham chiếu, không phải hướng dẫn tự sắc 16 g bạch chỉ mỗi ngày. Thương nhĩ tử có độc tính và cần bào chế phù hợp; toàn phương cần được đánh giá, không tự nghiền hạt ké đầu ngựa sống để uống.
CDC Hưng Yên đăng lại bài phổ biến chuyên môn nêu kinh giới 12 g, phòng phong 12 g, bạch chỉ 12 g, thạch cao sống 20 g trong một phương cho sưng lợi, đau răng.
Đây là liều của công thức được nguồn ghi nhận, có lượng bạch chỉ cao hơn khoảng tham khảo thông thường. Chỉ sử dụng khi được người có chuyên môn đánh giá; không thay điều trị nha khoa khi có viêm tủy hoặc áp xe.
Cùng nguồn ghi bạch chỉ 6 g, bối mẫu 6 g, đương quy 9 g, nhũ hương chế 4,5 g cho tình trạng được tài liệu gọi là viêm tuyến vú giai đoạn đầu. Người hướng dẫn phải xác định đúng loại bối mẫu và dạng chế biến.
Không tự áp dụng cho mọi trường hợp tắc tia sữa. Người cho con bú có sốt, sưng đỏ hoặc đau tăng cần khám; không phối thêm rượu hoặc bôi hỗn hợp lên đầu vú.
Tài liệu ghi một mẻ gồm bạch chỉ 30 g và xuyên khung 30 g, tán bột, dùng mật làm hoàn để ngậm. 30 g là lượng nguyên liệu của mẻ, không phải lượng uống một lần hay trong ngày.
Bài được ghi nhận ở mức kinh nghiệm. Hôi miệng thường cần kiểm tra răng miệng và nguyên nhân liên quan; không ngậm hoàn tự làm kéo dài để che triệu chứng.
Furanocoumarin là nhóm có khả năng gây phản ứng liên quan ánh sáng. Mức nguy cơ phụ thuộc chất, liều, chế phẩm và phơi nhiễm; không thể kết luận mọi lần dùng đều gây phản ứng.
Với ý định dùng ngoài, cần chọn chế phẩm phù hợp và bảo vệ da khỏi nắng. Ngừng dùng khi đỏ rát, ngứa hoặc kích ứng. Không tự bôi lên mặt để trị nám, lên vết thương sâu hoặc vùng gần mắt.
Dữ liệu tương tác lâm sàng của dược liệu thô chưa đầy đủ. Nghiên cứu phối diên hồ sách cho thấy thành phần bạch chỉ có thể làm thay đổi mức tiếp xúc hoạt chất trong mô hình động vật, nên không mặc định các phối hợp luôn an toàn.
Người dùng nhiều thuốc, thuốc chống đông, chống kết tập tiểu cầu hoặc thuốc có khoảng điều trị hẹp nên trao đổi với bác sĩ, dược sĩ trước khi dùng. Đây là thận trọng do dữ liệu còn hạn chế, không khẳng định bạch chỉ đã được chứng minh tương tác với mọi thuốc thuộc các nhóm này.
Thai phụ, người cho con bú và trẻ nhỏ không tự dùng liều của người lớn. Người mắc bệnh gan, thận hoặc đang điều trị ung thư cần báo việc dùng dược liệu cho bác sĩ điều trị.
Không dùng để tự xử trí rắn cắn, sốt cao ở trẻ nhỏ hoặc xuất huyết. Không hít bột vào mũi, nhỏ dịch sắc vào mắt hay thụt rửa âm đạo.
Đau đầu đột ngột dữ dội, yếu liệt, khó nói, nhìn mờ hoặc khó thở cần cấp cứu. Sưng mặt, sốt kèm đau răng, đau vùng xoang tăng hoặc viêm vú có biểu hiện nặng cần khám sớm.
Nếu xuất hiện nổi mề đay, sưng môi, khò khè hoặc khó thở sau dùng, ngừng tiếp xúc và xử trí y tế phù hợp.
Giữ phiến trong bao bì kín, nơi khô, tránh ẩm và ánh nắng. Sau mở túi, lấy bằng dụng cụ sạch, khô và đóng kín để hạn chế ẩm và mất mùi.
Không dùng hàng mốc, mùi lạ hoặc sâu mọt. Không rang lại để tận dụng dược liệu hư. Hạn dùng theo nhãn lô hàng thực tế, không tự suy từ sản phẩm khác.

Mua sản phẩm tại Búpxanh, bạn đặt niềm tin đúng chỗ. Búpxanh có tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm về nguồn dược liệu và xuất xứ, có hóa đơn đầu vào và đầu ra hợp pháp.
Khách hàng cần rễ bạch chỉ khô dạng phiến có thể liên hệ để nhận báo giá theo khối lượng. Giao nhận, phí vận chuyển và đổi trả thực hiện theo chính sách được thông báo khi đặt hàng.
Tham khảo cách đặt hàng tại Trung tâm Dược liệu hoặc tìm hiểu Trung tâm Dược liệu Búpxanh.
Trước khi sử dụng bạch chỉ, nên tham vấn người có chuyên môn (bác sĩ YHCT/đông y).
Là rễ được thái lát và làm khô. Không phải thân, lá hoặc bột cao chiết.
Theo YHCT, bạch chỉ có công năng giải biểu, khu phong, chỉ thống, thông khiếu, táo thấp và tiêu thũng bài nùng; dùng theo chứng trạng và phương phù hợp.
Không. Cần xác định nguyên nhân và thể bệnh. Bạch chỉ thường được dùng trong phương phối hợp, không tự pha thành nước nhỏ mũi.
Đau răng cần tìm nguyên nhân. Sâu răng, viêm tủy hoặc áp xe cần điều trị nha khoa, không chỉ giảm đau bằng dược liệu.
Nên dùng theo đơn và cách sắc được hướng dẫn. Hãm tùy ý không bảo đảm tương đương cách dùng trong tài liệu.
Nguồn Bệnh viện YHCT TP.HCM ghi 3–9 g/ngày; Đỗ Tất Lợi ghi 5–10 g/ngày. Chọn liều theo đơn, không cộng các khoảng này.
Không tự coi bột hoặc phiến giã là mỹ phẩm an toàn. Cần chú ý kích ứng và nhạy cảm ánh sáng; nghiên cứu hợp chất khác với mặt nạ tự pha.
Cần hướng dẫn riêng của người có chuyên môn, không tự áp dụng bài thuốc và liều người lớn.
Không mặc định giống. Một số tài liệu dùng tên nam bạch chỉ cho cây khác, nên phải đối chiếu loài trước khi thay thế.
Liên hệ Búpxanh để biết giá theo khối lượng; dạng sản phẩm trong bài là bạch chỉ khô thái phiến. Trọng lượng và hạn dùng căn cứ nhãn thực tế.
Kiểm duyệt chuyên môn: Trần Văn Bằng – Y sĩ Y học cổ truyền.
Người gửi / điện thoại
ĐC: E67 Đường Phú Thuân , Phường Phú Thuận, Quận 7, Hồ Chí Minh
GPKD: 41G8026476 ngày 30/07/2015 - MST: 037085015723
Email:duoclieubupxanh@gmail.com
Website: https://trungtamduoclieu.vn