Giá: 150.000 VND
Đánh giá 2 lượt đánh giá
Quả ké đầu ngựa, địa chỉ bán quả ké đầu ngựa
Mua 5kg quả ké tặng 1kg
Quả ké đầu ngựa, còn gọi là thương nhĩ tử, là dược liệu thường gặp trong các bài thuốc thông mũi, tán phong và trừ thấp. Sản phẩm dạng quả khô thuận tiện cho bảo quản, cân liều và phối thuốc theo đơn.
Những nhu cầu sử dụng thường được nhắc đến gồm nghẹt mũi, chảy nước mũi, đau đầu liên quan chứng tỵ uyên, ngứa da và đau nhức do phong thấp. Thương nhĩ tử có độc tính: cần dùng đúng dạng đã chế, đúng liều và đúng chỉ định. Đây là điểm cần biết ngay khi chọn mua, đặc biệt với khách hàng muốn tự sắc hoặc nghiền bột.

| Nội dung | Thông tin được ghi nhận trên trang sản phẩm |
|---|---|
| Tên hàng | Quả ké đầu ngựa khô |
| Mã sản phẩm | qkdnbx |
| Quy cách | Túi 1kg |
| Giá bán | 150.000 VNĐ/túi 1kg |
| Khuyến mại | Mua 5kg tặng 1kg |
| Thương hiệu | Búpxanh |
Khách đặt số lượng lớn có thể liên hệ để xác nhận giá, ưu đãi và phí giao hàng áp dụng cho đơn. Khi mua để phối thuốc, cần xác nhận rõ hàng đã sao chế hay là nguyên liệu khô cần chế tiếp theo yêu cầu của đơn.
| Đặc điểm | Thông tin |
|---|---|
| Tên thường dùng | Ké đầu ngựa |
| Tên vị thuốc từ quả | Thương nhĩ tử |
| Tên khác của cây | Thương nhĩ, phắt ma, mác nháng; tên địa phương có thể khác nhau |
| Tên khoa học trong tài liệu Việt Nam | Xanthium strumarium L. |
| Họ thực vật | Asteraceae – họ Cúc |
| Tên dược liệu | Xanthii Fructus, Fructus Xanthii |
| Bộ phận bán | Quả khô, không phải thân lá toàn cây |
| Dạng sử dụng làm thuốc | Quả đã được chế biến phù hợp theo yêu cầu chuyên môn |
Đỗ Tất Lợi phân biệt việc dùng quả với việc dùng phần cây trên mặt đất. [1] Nếu cần dạng thân lá, nên xem riêng sản phẩm cây ké đầu ngựa; không đổi bộ phận dùng rồi giữ nguyên liều của quả.
Một số tài liệu về thương nhĩ tử của Trung Quốc dùng tên Xanthium sibiricum. Trong bài nghiên cứu, cần giữ đúng tên nguyên liệu mà tác giả sử dụng, không xem mọi kết quả đều là kiểm nghiệm trực tiếp của sản phẩm X. strumarium bán tại Việt Nam.
Cây ké đầu ngựa có lá mọc so le, phiến gần dạng tam giác, mép răng cưa hoặc có thùy, bề mặt có lông. Phần thường gọi là quả có gai móc, dễ bám vào quần áo hoặc lông động vật. Theo mô tả thực vật, lớp bao bên ngoài chứa hai quả thực bên trong. [1,2]
Hàng khô thường có màu vàng nâu đến nâu, dạng thuôn hoặc gần hình trứng. Hình thức gai bên ngoài thay đổi theo mức làm sạch và sao chế. Khách hàng cần kiểm tra tên hàng, dạng chế và tình trạng dược liệu thay vì chỉ nhìn màu.
Những dấu hiệu cần xem khi nhận hàng:
Gai ít hoặc màu nâu không chứng minh dược liệu đã giảm độc đạt yêu cầu. Việc chế biến cần được xác nhận từ đơn vị cung cấp; không kiểm tra bằng cách nhai sống hoặc nếm hạt bên trong.
Ké đầu ngựa được ghi nhận mọc ở nhiều nơi tại Việt Nam, như đất hoang, bờ ruộng và ven đường. Quả chín được thu hái, làm sạch và làm khô. [1,2] Thông tin cây mọc phổ biến không đồng nghĩa mọi nơi thu hái đều thích hợp cung cấp dược liệu.
Đối với hàng bán, cần có thông tin nguồn cung thực tế và tình trạng sơ chế. Không dùng câu “mọc hoang” để thay cho việc kiểm soát đất cát, tạp chất, nấm mốc hoặc ô nhiễm.
Sao chế là một phần quan trọng trong sử dụng thương nhĩ tử. Nghiên cứu cho thấy chế biến bằng nhiệt làm thay đổi thành phần và có thể giảm độc tính trong mô hình thực nghiệm. [7] Tuy nhiên, giảm độc không có nghĩa mất hoàn toàn độc tính.
Việc chà gai, phơi khô, sao qua và chế biến theo quy trình là những thao tác khác nhau. Không coi loại bỏ gai là đã loại hết chất độc. Người mua hàng chưa chế không nên tự ước lượng nhiệt độ hoặc thời gian sao rồi dùng như hàng đã được kiểm soát.
Quả và nguyên liệu thương nhĩ tử được nghiên cứu về acid phenolic, các dẫn xuất caffeoylquinic, chất béo và nhiều hợp chất khác. Các nghiên cứu chống dị ứng mũi đã khảo sát phân đoạn caffeoylquinic acid hoặc một hợp chất phân lập là caffeoylxanthiazonoside. [5,6]
Việc phát hiện nhóm chất cho biết hướng nghiên cứu, không xác định hàm lượng trong từng túi hàng bán lẻ.
Atractyloside và carboxyatractyloside là những glycoside được quan tâm trong nghiên cứu độc tính của thương nhĩ tử. Nghiên cứu so sánh nguyên liệu sống và đã chế ghi nhận sự thay đổi hồ sơ hóa học cùng sự thay đổi độc tính trên tế bào. [7]
Không biến tác dụng hạ đường huyết của một thành phần độc thành công dụng hỗ trợ tiểu đường để quảng cáo. Hạ đường huyết trong ngộ độc là nguy cơ, không phải lợi ích của sản phẩm.
Tài liệu Đỗ Tất Lợi ghi nhận các khảo sát iod và kinh nghiệm dùng chế phẩm ké đầu ngựa cho bướu cổ. [1] Hàm lượng từ mẫu khảo sát cũ không được dùng như hàm lượng cố định của lô hàng hiện tại. Người bệnh tuyến giáp không nên tự bổ sung iod qua dược liệu khi chưa xác định loại bệnh.

Trong tài liệu về thuốc giải biểu, thương nhĩ tử có vị đắng, cay, tính ấm, có độc, quy kinh Phế. Công năng chính là tán phong trừ thấp, thông khiếu và chỉ thống. [3]
“Thông khiếu” trong ứng dụng nổi bật của vị thuốc hướng tới mũi. “Tán phong trừ thấp” liên quan cách xử lý chứng phong và thấp theo YHCT. “Chỉ thống” là giảm đau theo phạm vi chỉ định và cách phối bài, không phải mọi chứng đau đều phù hợp.
Đây là nhóm ứng dụng được ghi nhận rõ nhất. Thương nhĩ tử thường phối tân di, bạch chỉ, bạc hà trong các bài thuốc cho nghẹt mũi, chảy dịch mũi và đau vùng trán liên quan bệnh mũi. [3,4]
Trong thực hành YHCT, cần phân biệt biểu hiện phong hàn, phong nhiệt, thấp nhiệt hoặc tình trạng hư. Nghẹt mũi do dị ứng, nhiễm trùng, polyp và bất thường cấu trúc cũng cần được đánh giá để chọn phương pháp thích hợp.
Mục tiêu theo dõi nên là mức nghẹt, số lần hắt hơi, lượng dịch và ảnh hưởng đến giấc ngủ. Không tự tăng lượng quả ké khi triệu chứng chưa giảm.
Thương nhĩ tử được dùng trong bài cho đau đầu do phong hàn, thường phối các vị giải biểu và thông mũi. [3] Ứng dụng này khác với đau đầu do huyết hư; tài liệu lưu ý không dùng trong trường hợp huyết hư đau đầu.
Đau đầu dữ dội mới xuất hiện, kèm sốt cao, cứng gáy, yếu liệt hoặc nhìn mờ cần khám ngay. Không quy mọi cơn đau đầu cho viêm xoang rồi tự sắc dược liệu.
Kinh nghiệm dùng ké đầu ngựa cho mẩn ngứa, mụn nhọt được ghi nhận ở Việt Nam và trong y văn. [1,2] Các bài phối hợp thường lựa chọn thêm vị khu phong, thanh nhiệt hoặc xử lý tình trạng da theo thể bệnh.
Ngứa do dị ứng, viêm da, nấm da, bệnh gan thận hoặc thuốc có cách xử lý khác nhau. Công dụng dân gian không đủ để khẳng định quả ké điều trị tất cả các nguyên nhân này. Nếu mề đay kèm sưng môi, khó thở hoặc choáng, cần cấp cứu.
Thương nhĩ tử được ghi nhận trong nhóm bài thuốc phong thấp, đau nhức và tê mỏi. [3,4] Việc phối thuốc hướng vào thể bệnh; không lấy tên “viêm khớp” làm căn cứ duy nhất.
Khi khớp sưng nóng đỏ, có sốt hoặc đau sau chấn thương, cần đánh giá trước. Tê bì tăng dần hoặc yếu cơ cũng cần tìm nguyên nhân, không chỉ dùng thuốc trừ phong thấp.
Ké đầu ngựa có kinh nghiệm dùng cho bướu cổ được ghi trong tài liệu Việt Nam. [1,2] Tuy nhiên, bướu cổ có nhiều nguyên nhân, bao gồm thiếu iod, bệnh tự miễn và nhân tuyến giáp; không đồng nhất với ung thư.
Nếu có khối vùng cổ, cần khám và làm xét nghiệm hoặc siêu âm theo chỉ định. Không diễn đạt công dụng lịch sử thành “tiêu u tuyến giáp”, “chữa ung bướu” hoặc chắc chắn làm nhỏ mọi bướu.
Tài liệu có ghi dùng nước sắc quả để ngậm rồi nhổ trong đau răng, và bài phối thương nhĩ tử thiêu tồn tính với đình lịch cho thủy thũng, bí tiểu. [2] Đây là kinh nghiệm truyền thống; không phải bằng chứng cho khả năng làm tan sỏi thận hoặc diệt nhiễm trùng tiết niệu.
Đau răng cần xử lý nguyên nhân tại răng và nướu. Bí tiểu, tiểu ít kèm phù hoặc đau hông lưng có sốt cần được khám sớm, đặc biệt vì tổn thương thận cũng có thể là biểu hiện ngộ độc dược liệu.
Peng và cộng sự khảo sát các caffeoylquinic acid từ quả Xanthium strumarium trên mô hình động vật. Nghiên cứu ghi nhận hoạt tính liên quan phản ứng dị ứng và viêm, cung cấp hướng giải thích cho cách dùng truyền thống ở bệnh mũi. [5]
Một nghiên cứu khác khảo sát caffeoylxanthiazonoside phân lập từ quả trên động vật gặm nhấm. [6] Cả hai đều nghiên cứu chất hoặc phân đoạn chọn lọc, không chứng minh uống trực tiếp quả khô có cùng hiệu quả hay cùng mức an toàn.
Su và cộng sự so sánh thương nhĩ tử sống với dạng chế bằng nhiệt. Trong mô hình tế bào, dạng đã chế ít độc hơn với tế bào nguồn gốc gan MIHA; cả hai dạng ảnh hưởng tới NO và biểu hiện iNOS trong đại thực bào RAW264.7 kích thích bằng LPS. [7]
Nghiên cứu đồng thời ghi nhận thay đổi hồ sơ hóa học. Kết quả hỗ trợ vai trò của chế biến nhưng không tạo một quy trình sao tại nhà hoặc chứng nhận an toàn cho lô hàng bán.
Các tài liệu về cây ké có thể đề cập kháng vi sinh vật, chuyển hóa hoặc hoạt tính trên tế bào. Cần kiểm tra từng nghiên cứu dùng quả, lá, thân hay hợp chất phân lập. Không gán nghiên cứu thân lá cho sản phẩm quả và không chuyển kết quả phòng thí nghiệm thành công dụng chữa bệnh trên người.
Trong các tài liệu dùng cho bài này, chưa có cơ sở đủ để giới thiệu quả ké bán lẻ là sản phẩm chữa ung thư, làm tan sỏi, điều trị đái tháo đường hoặc ổn định huyết áp có hiệu quả đã xác lập.

Zhao và cộng sự công bố thử nghiệm năm 2009 trên 126 người viêm mũi dị ứng quanh năm. Nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược, dùng chế phẩm Shi-Bi-Lin trong bốn tuần và theo dõi thêm hai tuần. Đây là bài phối hợp phát triển từ Thương nhĩ tử tán. [8]
Tóm tắt nghiên cứu ghi nhận cải thiện một số triệu chứng, đặc biệt nghẹt mũi, và một số mặt chất lượng sống; không gặp biến cố nghiêm trọng trong thời gian thử. Kết quả thuộc về chế phẩm phối hợp, không tách riêng tác dụng của thương nhĩ tử và không xác lập an toàn khi uống quả khô kéo dài.
Đỗ Tất Lợi tổng thuật một báo cáo năm 1959 dùng cao quả ké cho 22 trường hợp bệnh ngoài da: 11 trường hợp được báo cáo khỏi, tám đỡ rõ và ba có tiến bộ. Tài liệu cũng nhắc việc dùng cao ké dạng viên cho bướu cổ tại một số lâm trường năm 1969–1970. [1]
Đây là ghi nhận lịch sử, thiếu thông tin đầy đủ về thiết kế, tiêu chuẩn đánh giá và theo dõi trong phần trích dẫn đã tiếp cận. Những trường hợp được báo cáo khỏi cần hiểu đúng phạm vi báo cáo, không dùng để hứa hiệu quả cho người mua hiện nay.
Li và cộng sự năm 2023 báo cáo người đàn ông 55 tuổi tự dùng Xanthii Fructus chưa chế, khoảng 20g mỗi ngày trong hai tháng để xử lý viêm mũi. Bệnh nhân xuất hiện tổn thương gan, thận, rối loạn đông máu và suy nhiều cơ quan, cuối cùng tử vong. [9]
Báo cáo dùng nguyên liệu được tác giả ghi là X. sibiricum. Đây là cảnh báo đối với việc dùng thương nhĩ tử chưa chế hoặc kéo dài; không được suy rằng liều thấp hơn 20g đương nhiên an toàn.
Không dùng sản phẩm như trà uống thay nước, thực phẩm bổ dưỡng hoặc liệu trình tự phòng bệnh. Có đơn cũ không có nghĩa có thể lặp lại vô hạn khi triệu chứng thay đổi.
| Nguồn hoặc dạng sử dụng | Liều được ghi nhận | Điểm cần hiểu |
|---|---|---|
| Tài liệu thuốc giải biểu, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương | 3–10g/ngày | Khoảng liều tham khảo của thương nhĩ tử, cần lựa chọn theo chỉ định |
| Kinh nghiệm quả sao vàng tán bột cho chảy dịch mũi | 4–8g/ngày | Ghi nhận truyền thống, không áp dụng cho quả sống |
| Bài phối hợp có lượng riêng | Theo công thức được kê | Không cộng thêm liều thương nhĩ tử dùng đơn |
| Cao, viên hoặc chế phẩm nghiên cứu | Theo chế phẩm cụ thể | Không chuyển liều thành phẩm thành số gam quả khô |
Khoảng 3–10g được nêu trong tài liệu thuốc giải biểu. [3] Liều dùng không phải ngưỡng bảo đảm an toàn cho mọi người. Một số bài tham khảo phía dưới có lượng cao hơn khoảng này; cần thầy thuốc đánh giá riêng, không lấy đó làm liều phổ thông.
Không mặc định đun càng lâu càng hết độc. Không pha uống quả sống nghiền bột và không dùng quả mọc mầm.
Ghi lại ngày bắt đầu, lượng dùng, các vị phối và thuốc đang uống. Nếu xuất hiện buồn nôn, đau bụng, mệt bất thường hoặc lượng nước tiểu giảm, cần dừng và được đánh giá y tế, không tiếp tục chờ bài thuốc phát huy tác dụng.

Các công thức sau là tài liệu tham khảo, cần thầy thuốc xác định thể bệnh, liều và thời gian dùng. Quả ké trong đơn cần được chế đúng. Không tự phối nhiều bài, không dùng công thức người lớn cho trẻ em.
Công thức được ghi nhận: Thương nhĩ tử 8g, bạch chỉ 30g, tân di 15g, bạc hà 1,5g. Tài liệu mô tả sắc các vị, bạc hà cho sau; tân di bọc để tránh lông lẫn vào nước. [4]
Đây là một phiên bản công thức trên nguồn tham khảo; lượng bạch chỉ và tân di cần người kê đơn xem xét, không dùng như công thức tự uống mặc định. Khách tìm tân di và bạch chỉ cần mua đúng vị, không tự thay bằng cây có tên gần giống.
Thành phần: Ké đầu ngựa 12g, bạc hà 6g, thương truật 8g, kim ngân hoa 12g, bồ công anh 12g, cam thảo 4g.
Dạng dùng: Sắc uống ngày một thang, theo bài “Ké đầu ngựa chữa nhiều bệnh” của BS. Nguyễn Trung. [10]
Lượng quả ké 12g vượt khoảng tham khảo 3–10g ở phần trên, cần chỉ định riêng. Khi nghẹt kèm sốt cao, đau tăng hoặc sưng quanh mắt, cần khám tai mũi họng.
Thành phần: Ké đầu ngựa 12g, sài đất 16g, bồ công anh 12g, kim ngân hoa 12g.
Dạng dùng được ghi nhận: Sắc uống ngày một thang, theo cùng tài liệu của BS. Nguyễn Trung. [10]
Công thức cần được kê theo tình trạng da; không dùng để trì hoãn xử trí ổ mủ, nhiễm trùng lan hoặc tổn thương kèm sốt.
Thành phần: Cúc hoa, khổ sâm, kim ngân hoa, ké đầu ngựa mỗi vị 12g; đan bì 8g; sinh địa và thổ phục linh mỗi vị 16g.
Dạng dùng được ghi nhận: Sắc uống ngày một thang. Nguồn: lương y Thái Hòe, bài “Bài thuốc trị viêm da thần kinh”. [11]
Đây là bài lựa chọn theo thể được nguồn mô tả, không áp dụng chung cho mọi dạng viêm da. Không tự kèm các thuốc bôi có thành phần độc được nêu ở những tài liệu khác.
Thành phần: Quả ké đầu ngựa 12g, hy thiêm 28g, ngải cứu 12g, cỏ xước 12g, thổ phục linh 20g, cỏ nhọ nồi 16g.
Dạng dùng được ghi nhận: Các vị làm sạch, sao vàng và sắc uống, theo chuyên mục dược liệu của Bệnh viện Nguyễn Tri Phương. [4]
Giữ đúng phiên bản công thức này, không ghép lượng cỏ xước 40g hoặc thêm thiên niên kiện từ bài khác rồi vẫn coi là nguyên bài. Vị thiên niên kiện có ở những bài phối hợp khác, cần lựa chọn riêng theo đơn.
Công thức được ghi nhận: Thương nhĩ tử thiêu tồn tính và đình lịch lượng bằng nhau, tán nhỏ; mỗi lần 8g bột phối hợp, ngày hai lần. [2]
Đây là mô tả bài truyền thống, không phải hướng dẫn tự dùng cho bí tiểu hoặc sỏi thận. Lượng 8g là của hỗn hợp hai vị, không phải 8g riêng quả ké. Thiêu tồn tính là một dạng chế riêng; không thay bằng quả khô chưa chế. Bí tiểu cần đánh giá nguyên nhân và xử trí sớm.
Tài liệu ghi nhận ngậm nước sắc quả rồi nhổ. [2] Nguồn không nêu đầy đủ liều và nồng độ, vì vậy không tự bổ sung lượng để thành một công thức ngậm tại nhà. Đau răng kéo dài cần khám nha khoa.
Độc tính không chỉ nằm ở phần gai nhìn thấy. Các glycoside liên quan độc tính và biến đổi khi chế đã được nghiên cứu. [7] Chế biến đúng giúp giảm nguy cơ nhưng không cho phép tăng liều hoặc dùng kéo dài tùy ý.
Buồn nôn, đau bụng, chán ăn, mệt bất thường, vàng da, nước tiểu sẫm, tiểu ít hoặc lơ mơ sau dùng cần được đánh giá ngay. Báo cáo lâm sàng đã ghi nhận tổn thương gan, thận và rối loạn đông máu. [9]
Nếu nghi ngộ độc, dừng sản phẩm, đến cơ sở y tế và mang theo bao bì, mẫu dược liệu, đơn thuốc cùng danh sách thuốc đã dùng. Không tự gây nôn hoặc tiếp tục uống bài “giải độc” khác.
Dữ liệu tương tác trên người còn hạn chế. Người dùng thuốc điều trị bệnh gan, thận, đái tháo đường hoặc nhiều thuốc cần cung cấp danh sách đầy đủ cho người điều trị. Không mặc định uống cách thuốc vài giờ sẽ tránh được độc tính hoặc tương tác.
Thai phụ, người cho con bú và trẻ em cần đánh giá chuyên môn. Không quy đổi liều trẻ theo một phần liều người lớn và không dùng quả ké như trà gia đình.
Một số sách cổ có ghi điều kiêng trong ăn uống. Đây là thông tin truyền thống, không phải biện pháp kiểm soát độc tính. Dùng đúng dược liệu, đúng chế biến, đúng liều và theo dõi mới là những yêu cầu thiết yếu.
Giữ dược liệu trong bao bì kín, nơi khô ráo, tránh nắng và độ ẩm cao. Dùng dụng cụ khô khi lấy hàng; đóng kín ngay sau đó. Để xa tầm tay trẻ em và không đặt chung với thực phẩm ăn trực tiếp.
Hạn dùng theo nhãn thực tế của lô hàng. Ghi rõ tên và tình trạng đã chế trên bao bì để tránh nhầm. Nếu có mốc, mùi lạ, quả mọc mầm hoặc sâu mọt gây hỏng, không tiếp tục dùng bằng cách phơi hay sao lại.
Nước thuốc sắc dùng theo hướng dẫn của đơn; không pha hoặc sắc cả túi 1kg để trữ uống dài ngày.

Khách đặt hàng nên báo rõ quả ké đầu ngựa – thương nhĩ tử, quy cách cần mua và yêu cầu sao chế theo đơn. Búpxanh cung cấp thông tin hàng, giá và hóa đơn; khách cần xác nhận dạng chế thực tế trước khi sử dụng.
Thông tin cửa hàng có tại bài Trung tâm dược liệu Búpxanh ở đâu. Điều kiện giao nhận và ưu đãi áp dụng được xác nhận khi đặt.
Khi nhận, kiểm tra khối lượng, tên sản phẩm, nhãn và bao bì. Nếu hàng không đúng thông tin đã xác nhận hoặc có dấu hiệu hư hỏng, giữ hình ảnh và liên hệ cửa hàng để giải quyết theo chính sách áp dụng.
Thương nhĩ tử là tên vị thuốc từ quả. Cần phân biệt với thân lá cây ké và xác định dạng chế.
Ứng dụng YHCT nổi bật là thông mũi, tán phong trừ thấp và chỉ thống, thường phối trong bài cho nghẹt mũi, chảy dịch mũi, ngứa hoặc phong thấp.
Không tự dùng. Quả khô chưa chế không đồng nghĩa sẵn dùng làm thuốc uống; cần xác nhận chế biến phù hợp.
Không bảo đảm hết độc. Chế biến đúng có thể giảm độc tính; hình thức gai và màu không đủ kiểm chứng.
Tài liệu thuốc giải biểu ghi 3–10g/ngày. Đây là khoảng tham khảo, không phải liều tự uống cho mọi người. Các bài khác có liều riêng và cần thầy thuốc lựa chọn.
Không dùng như nước uống thường ngày. Cần chỉ định, thời gian theo dõi và đánh giá lại; không tự lặp bài kéo dài.
Có ghi nhận sử dụng lịch sử cho bướu cổ, nhưng không xác lập hiệu quả với mọi bệnh tuyến giáp. Bướu cổ không đồng nghĩa ung thư; cần khám trước khi dùng.
Bài truyền thống cho thủy thũng, bí tiểu không đủ chứng minh làm tan sỏi. Người bí tiểu hoặc tiểu ít cần khám sớm.
Không. Công dụng “giải độc” theo ngôn ngữ YHCT không đồng nghĩa bảo vệ gan; thương nhĩ tử có thể gây tổn thương gan khi dùng không phù hợp.
Trang sản phẩm được lập chỉ mục ghi túi 1kg giá 150.000 VNĐ, mua 5kg tặng 1kg. Xác nhận chương trình còn áp dụng khi chốt đơn.
Kiểm duyệt chuyên môn: Trần Văn Bằng – Y sĩ Y học cổ truyền
Nội dung phân biệt cách dùng truyền thống, dữ liệu thực nghiệm và nghiên cứu trên người. Trước khi lựa chọn liều hoặc bài phối hợp, nên tham vấn người có chuyên môn (bác sĩ YHCT/Đông y).
Người gửi / điện thoại
ĐC: E67 Đường Phú Thuân , Phường Phú Thuận, Quận 7, Hồ Chí Minh
GPKD: 41G8026476 ngày 30/07/2015 - MST: 037085015723
Email:duoclieubupxanh@gmail.com
Website: https://trungtamduoclieu.vn