Giá: 330.000 VND
Đánh giá 6 lượt đánh giá
Cây ba chạc khô tại Búpxanh là dược liệu dùng trong kinh nghiệm chăm sóc da, phong thấp và hỗ trợ tiêu hóa. Cách dùng, liều lượng cần phân biệt lá, thân và rễ. Búpxanh chịu trách nhiệm về nguồn dược liệu, xuất xứ, có hóa đơn đầu vào và đầu ra hợp pháp. Liên hệ để nhận báo giá, xem sản phẩm và đặt mua theo nhu cầu riêng.
Cây ba chạc khô là dược liệu được sử dụng trong kinh nghiệm chăm sóc da mẩn ngứa, đau nhức do phong thấp và một số phương thuốc bổ đắng giúp ăn ngon, dễ tiêu. Giá trị sử dụng của ba chạc gắn với đúng bộ phận dùng: lá, thân, vỏ thân và rễ có cách dùng, liều lượng khác nhau.
Búpxanh có tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm về nguồn dược liệu và xuất xứ, có hóa đơn đầu vào và đầu ra hợp pháp. Khách hàng có thể liên hệ để mua ba chạc dạng khô, xem ảnh sản phẩm và lựa chọn quy cách phù hợp nhu cầu.
Ba chạc vừa có lịch sử sử dụng trong y học cổ truyền, vừa được nghiên cứu về kháng viêm, giảm đau và các hoạt tính sinh học khác. Khi sử dụng, cần phân biệt kinh nghiệm dân gian, kết quả thực nghiệm và nghiên cứu trên người để lựa chọn cách dùng phù hợp.
| Nội dung | Thông tin |
|---|---|
| Tên sản phẩm | Cây ba chạc khô |
| Tên thường gặp | Ba chạc, dầu dấu, dấu dầu, bí bái, mạt |
| Tên khoa học hiện được chấp nhận | Melicope pteleifolia (Champ. ex Benth.) T.G.Hartley |
| Tên dùng trong nhiều tài liệu Việt Nam | Euodia lepta (Spreng.) Merr.; một số tài liệu viết Evodia lepta |
| Họ thực vật | Rutaceae — họ Cam |
| Dạng bán | Dược liệu khô |
| Bộ phận được dùng trong tài liệu | Lá, cành, thân, vỏ thân và rễ; phân biệt theo mục đích |
| Giá và quy cách đặt mua | Liên hệ Búpxanh để nhận báo giá theo khối lượng |
| Đơn vị cung cấp | Búpxanh |
Không lấy liều của rễ áp dụng cho túi thân lá hoặc lấy liều lá tươi dùng nguyên vẹn cho lá khô. Khi dùng theo đơn, tên bộ phận phải tương ứng với nguyên liệu trong phương thuốc.
Tên ba chạc gắn với cấu trúc lá kép gồm ba lá chét, nhìn như một chạc ba. Đỗ Tất Lợi ghi các tên dầu dấu, bí bái và mạt cùng tên khoa học dùng trong y văn cũ.[1]
Danh pháp hiện được Kew chấp nhận là Melicope pteleifolia.[2] Tên Euodia lepta vẫn xuất hiện trong nghiên cứu Việt Nam và tài liệu sử dụng truyền thống; vì vậy, khi tìm nghiên cứu cần tra cả hai tên.
Một số tài liệu gọi ba chạc là chè đắng. Tuy nhiên, tên “chè đắng” còn dùng cho cây thuộc chi Ilex. Hai nhóm cây không được xem là cùng một dược liệu chỉ vì chung tên dân gian.[3]
Ba chạc cũng khác ba kích và ba gạc. Tên gần giống không đồng nghĩa cùng công dụng hoặc cùng cách sử dụng. Với sản phẩm khô đã cắt nhỏ, cần dựa vào thông tin sản phẩm và bộ phận dùng, không chỉ nhìn tên gọi.

Ba chạc là cây thân gỗ nhỏ, lá kép ba lá chét, hoa mọc thành cụm ở nách lá. Đặc điểm lá là dấu hiệu dễ nhớ khi quan sát cây còn sống.[1]
Trong sản phẩm khô, cách nhận biết thay đổi theo bộ phận:
Không dùng màu sắc làm tiêu chí duy nhất. Khi nhận hàng, kiểm tra nguyên liệu có sạch, khô, không mốc, không mùi lạ và đúng dạng đặt mua. Những mảnh bị ẩm mềm, có côn trùng hoặc mốc cần được loại bỏ.
Y văn ghi nhận lá dùng tươi hoặc khô; thân và rễ có thể thái nhỏ rồi phơi khô. Lá, cành non thường xuất hiện trong kinh nghiệm tắm rửa ngoài da, còn thân và rễ được dùng trong các phương sắc.[1]
Với dược liệu khô, trước khi sử dụng nên loại tạp chất và rửa nhanh. Không ngâm kéo dài rồi giữ nguyên liệu ẩm nhiều ngày. Nếu dùng theo đơn có yêu cầu bào chế riêng, thực hiện theo người kê đơn.
Ba chạc khô không phải cao chuẩn hóa, tinh dầu hay chế phẩm vô khuẩn. Đun sắc có thể tạo nước dùng ngoài theo kinh nghiệm, nhưng không làm sản phẩm trở thành dung dịch được chỉ định cho mọi vết thương.
Những nhóm chất đã được ghi nhận gồm alkaloid, flavonoid, coumarin, saponin và thành phần tinh dầu, tùy bộ phận và phương pháp phân tích. Nghiên cứu thân cây năm 2025 xác định các alkaloid dictamnin, evolitrin và kokusaginin bằng sắc ký lớp mỏng.[4]
Các nghiên cứu lá còn khảo sát acetophenon, benzopyran và hợp chất phloroglucinol. Một hoạt chất thường được nhắc đến là 2,4,6-trihydroxy-3-geranyl acetophenone, viết tắt tHGA.[5,6]
Nhóm melicopteline A–E được phân lập từ lá để khảo sát hoạt tính chống virus cúm A.[7] Đây là các hợp chất nghiên cứu, không phải kết quả định lượng của hàng bán.
Thành phần và hàm lượng có thể khác nhau giữa lá, thân, rễ và dịch chiết. Không gán hàm lượng hoạt chất của một cao nghiên cứu cho một túi cây khô chưa có kiểm nghiệm tương ứng.
Tài liệu sử dụng truyền thống ghi ba chạc có vị đắng, mùi thơm, tính lạnh, được dùng với các công năng thanh nhiệt, giải độc, trừ thấp, chống ngứa, giảm đau và lợi sữa.[8]
Trong cách dùng của y học cổ truyền, thanh nhiệt và giải độc là mô tả công năng theo chứng trạng. Không nên hiểu thành cam kết loại bỏ mọi độc chất hoặc xử lý mọi tình trạng nhiễm trùng.
Lá và cành ba chạc được ghi nhận trong kinh nghiệm nấu nước tắm rửa cho ghẻ, mụn nhọt, lở ngứa và chốc đầu.[1] Một số tài liệu còn đề cập eczema, viêm mủ da và áp xe trong phạm vi sử dụng truyền thống.[8]
Nhu cầu thường gặp là giảm khó chịu ở da bằng cách dùng ngoài. Tuy nhiên, ghẻ, nấm da, viêm da cơ địa và nhiễm khuẩn da có nguyên nhân khác nhau. Người ngứa kéo dài cần xác định nguyên nhân để chọn cách chăm sóc.
Không chà mạnh bã lá lên vùng da tổn thương. Không đắp dược liệu thô vào vết thương sâu, áp xe hoặc vùng nhiễm trùng lan rộng. Nếu da đang rỉ dịch, đau tăng, nóng đỏ hoặc có sốt, cần được thăm khám.
Rễ và vỏ thân có ghi nhận sử dụng cho đau gân, đau xương, lưng gối đau nhức, tê bại và đau dây thần kinh hông. Bài phối hợp cùng dây đau xương, câu đằng và tang ký sinh được phổ biến trong tài liệu.[8,9]
Trong thực hành y học cổ truyền, lựa chọn vị thuốc cần xem đau có liên quan phong thấp, hàn hay nhiệt, vị trí đau và những biểu hiện đi kèm. Tính lạnh của ba chạc cũng là yếu tố cần cân nhắc ở người sợ lạnh hoặc dễ đi lỏng.
Đau lan chân, yếu cơ, rối loạn tiểu tiện hoặc đau sau chấn thương cần đánh giá nguyên nhân. Không gọi ba chạc là sản phẩm điều trị mọi bệnh xương khớp chỉ từ kinh nghiệm dùng cho phong thấp.
Đỗ Tất Lợi ghi thân và rễ được sử dụng như thuốc bổ đắng, hướng đến nhu cầu ăn ngon, dễ tiêu.[1] Đây là một công dụng truyền thống đáng chú ý, khác với cách quảng cáo chung “bồi bổ toàn thân”.
Người chán ăn kéo dài cần xem xét tiêu hóa, thuốc đang dùng, bệnh nền và khẩu phần. Khi ba chạc được lựa chọn trong phương thuốc, liều và thời gian dùng nên phù hợp với thể trạng, không mặc định uống càng lâu càng tốt.
Tài liệu ghi việc dùng lá hoặc rễ cho phụ nữ sau sinh trong nhu cầu ăn uống, tiêu hóa; lá còn được ghi nhận trong kinh nghiệm lợi sữa.[8,9]
Nghiên cứu cũ được tài liệu bệnh viện mô tả sử dụng mô hình diều chim bồ câu, không phải thử nghiệm trực tiếp trên phụ nữ cho con bú.[8] Vì vậy, cần phân biệt kinh nghiệm lưu truyền với bằng chứng về lượng sữa và an toàn cho mẹ, trẻ.
Người ít sữa nên được hỗ trợ đánh giá cách bú, tần suất bú, dinh dưỡng và sức khỏe sau sinh. Không tự dùng dược liệu kéo dài khi trẻ tăng cân kém hoặc mẹ có triệu chứng bất thường.
Rễ và vỏ thân được ghi nhận trong kinh nghiệm điều kinh.[1,9] Việc sử dụng cần dựa vào biểu hiện và nguyên nhân, không xem là thuốc điều chỉnh nội tiết dùng chung.
Chậm kinh cần loại trừ khả năng mang thai trước khi dùng. Chảy máu nhiều, kéo dài, đau bụng dữ dội hoặc khí hư bất thường cần được thăm khám.
Một số tài liệu sử dụng truyền thống đề cập lá ba chạc trong viêm họng, viêm amidan, ho và viêm loét lưỡi, miệng.[8,9] Liều ghi cho lá tươi không được tự chuyển ngang sang sản phẩm khô.
Không xem nước ba chạc là dung dịch dùng để nhỏ mắt hoặc sử dụng cho niêm mạc theo mọi cách. Đau họng kèm khó thở, khó nuốt, sốt kéo dài hoặc sưng vùng cổ cần được đánh giá.
Tài liệu truyền thống có ghi kinh nghiệm dùng lá cho viêm gan vàng da và viêm dạ dày.[9] Phạm vi này được trình bày như ghi nhận sử dụng, chưa phải kết quả xác nhận điều trị viêm gan B hoặc C bằng cây khô.
Vàng da, vàng mắt, nước tiểu sẫm hoặc đau bụng cần tìm nguyên nhân gan mật. Không dùng từ “giải độc gan” để suy ra dược liệu có tác dụng tiêu diệt virus viêm gan.
Một số tài liệu cũ còn ghi dùng cho sốt, khát, mắt mờ, co giật, bán thân bất toại, rắn cắn hoặc ngộ độc lá ngón.[3,8] Những ghi nhận này không trở thành chỉ dẫn tự xử trí.
Co giật, nghi đột quỵ, rắn cắn và ngộ độc là tình huống cần cấp cứu. Không chờ sắc ba chạc, không cho người đang co giật hoặc giảm ý thức uống nước thuốc và không đắp lá lên vết rắn cắn để trì hoãn đến cơ sở y tế.
Nghiên cứu năm 2025 tại Đại học Y Dược TP.HCM dùng cao chiết ethanol 96% từ thân ba chạc, đánh giá trên mô hình phù chân chuột do carrageenan. Hai liều 100 và 200mg cao/kg thể trọng làm giảm mức phù trong điều kiện thử nghiệm.[4]
Kết quả bổ sung căn cứ cho hướng nghiên cứu kháng viêm. Không chuyển liều chuột sang liều cây khô cho người và không lấy phép so sánh trong một mô hình để quảng cáo ba chạc thay ngang thuốc chống viêm.
Nghiên cứu độc tính cấp không ghi nhận chết chuột ở mức liều tối đa đã thử. Đây là thông tin giới hạn ở cao nghiên cứu và thử nghiệm cấp, không bảo đảm an toàn dùng dài ngày cho mọi đối tượng.
Công trình năm 2019 mang tên Constituents of the Edible Leaves of Melicope pteleifolia with Potential Analgesic Activity khảo sát các thành phần của lá theo hướng giảm đau.[10]
Các nghiên cứu thực nghiệm về rễ và dịch chiết cũng xuất hiện trong tổng quan năm 2020.[11] Hướng nghiên cứu này phù hợp để tiếp tục tìm hiểu mối liên hệ với kinh nghiệm đau nhức, nhưng còn khác việc chứng minh hiệu quả của một sản phẩm khô trên người bệnh.
tHGA là hoạt chất được nghiên cứu về các đường truyền tín hiệu viêm. Công trình về hàng rào nội mô khảo sát khả năng bảo vệ liên kết giữa tế bào trong mô hình bị kích thích bởi lipopolysaccharide, với hướng cơ chế GEF-H1/RhoA/ROCK.[6]
Đây là nghiên cứu cơ chế tế bào. Nó giúp giải thích hướng phát triển hoạt chất, không có nghĩa uống cây ba chạc khô sẽ điều trị rò rỉ mạch máu hoặc mọi bệnh dị ứng.
Tài liệu bệnh viện ghi nước sắc lá có hoạt tính ức chế Shigella trong thử nghiệm.[8] Hoạt tính trên vi khuẩn trong phòng thí nghiệm khác với hiệu quả điều trị nhiễm khuẩn ở người.
Nghiên cứu năm 2021 phân lập melicopteline A–E từ lá và khảo sát hoạt tính chống virus cúm A.[7] Không dùng kết quả này để khẳng định cây khô phòng được cúm, viêm não hoặc bệnh truyền nhiễm.
Công trình về dịch chiết lá năm 2017 khảo sát hoạt tính chống oxy hóa, ức chế tăng sinh và gây chết tế bào theo chương trình trên các dòng tế bào ung thư.[12]
Những kết quả này là dữ liệu thực nghiệm. Không chuyển thành công dụng “hỗ trợ điều trị ung thư” đã được xác lập cho nước sắc hoặc sản phẩm cây khô.
Những nguồn tổng hợp và trang giới thiệu dược liệu có đề cập nhiều hướng như chuyển hóa đường, huyết áp, mỡ máu, miễn dịch và enzym cholinesterase.[3,11] Khi chưa có công trình tương ứng đủ rõ trên người, không dùng những mục này làm cam kết của sản phẩm.
Người đang dùng thuốc điều trị bệnh mạn tính cần được tư vấn trước khi thêm ba chạc. Không tự giảm liều thuốc dựa vào danh sách tác dụng trên một website.
Ba chạc có thể được cân nhắc cho người trưởng thành sử dụng theo hướng dẫn chuyên môn, trong nhu cầu chăm sóc ngoài da hoặc phương thuốc được kê đúng bộ phận dược liệu.
Các nhóm cần được đánh giá riêng trước khi dùng đường uống gồm:
Kinh nghiệm lợi sữa không tự bảo đảm an toàn cho mọi mẹ và trẻ. Dùng ngoài cũng cần xem mức tổn thương da; nếu da trầy, viêm lan hoặc có nhiễm trùng, nên được khám trước.
Các tài liệu ghi mức liều khác nhau theo mục đích. Không gộp thành một con số “liều cây ba chạc” cho hỗn hợp chưa rõ tỷ lệ lá, thân và rễ.
| Dạng và mục đích trong tài liệu | Lượng được ghi nhận | Phạm vi áp dụng |
|---|---|---|
| Thân hoặc rễ làm thuốc bổ đắng, điều kinh | 4–12g/ngày | Thuốc sắc theo Đỗ Tất Lợi |
| Lá trong kinh nghiệm bổ đắng | 8–10g/ngày | Tài liệu bệnh viện; không áp dụng cho mọi bệnh |
| Lá trong kinh nghiệm lợi sữa | 8–16g/ngày | Cần tư vấn riêng cho người cho con bú |
| Lá trong một số tài liệu sắc uống | 10–15g/ngày | Không đồng nhất với liều rễ |
| Rễ trong một số tài liệu khác | 9–30g/ngày | Phải gắn với mục đích và hướng dẫn |
| Lá tươi cho một số chứng họng, miệng | 12–20g/ngày | Số liệu cho lá tươi, không chuyển ngang sang khô |
| Rễ cho phong thấp trong tài liệu phổ biến | 20–40g/ngày | Liều cao hơn, chỉ xem xét dưới hướng dẫn chuyên môn |
Nguồn liều: [1,3,8,9]. Các mức trên là tham khảo từ tài liệu, không phải hướng dẫn tự tăng dần hoặc lựa chọn mức cao nhất.
Với sản phẩm khô: phải xác định đúng bộ phận trước khi áp dụng. Không dùng liều 100–200mg/kg của cao chiết trên chuột hoặc liều 200mg/ngày của chế phẩm nghiên cứu để tính lượng cây khô.
Chuẩn bị lượng theo chỉ dẫn, loại bỏ tạp chất và rửa nhanh. Thêm nước đủ ngập nguyên liệu trong dụng cụ sắc phù hợp; sắc theo hướng dẫn của đơn thuốc hoặc người cung cấp chuyên môn.
Thời gian sắc phụ thuộc dạng lá, cành, rễ, kích thước cắt và các vị phối hợp. Không cần áp dụng cùng một thời gian cho mọi dạng sản phẩm.
Dùng nước sắc trong ngày, không giữ nhiều ngày ở nhiệt độ phòng. Không tự dùng thay nước lọc hoặc tăng lượng vì vị đắng nhẹ. Khi có đau bụng, buồn nôn, đi lỏng hoặc biểu hiện dị ứng, dừng dùng và hỏi người có chuyên môn.
Chỉ dùng nguyên liệu đúng loại, không mốc. Sau khi nấu, lọc bỏ mảnh vụn, để nước nguội phù hợp và thử trên vùng da nhỏ trước.
Dùng ngoài nhẹ nhàng, tránh mắt và niêm mạc. Không chà xát bã lá, không băng kín dược liệu thô lên vùng trầy loét. Công thức ghi lá tươi không có tỷ lệ quy đổi cố định sang khối lượng lá khô.
Một số tài liệu có ghi dạng rượu thuốc hoặc bột dùng ngoài, nhưng chưa xác lập công thức chung cho sản phẩm cây khô này. Không tự tạo tỷ lệ ngâm và coi là liều điều trị chuẩn.
Tránh rượu thuốc ở thai phụ, người cho con bú, trẻ em, người bệnh gan hoặc người không được uống rượu. Không đưa bột thô vào mắt, miệng hoặc vết thương sâu.
Các cách dùng dưới đây giữ đúng bộ phận và lượng tài liệu nêu. Chúng là thông tin tham khảo để trao đổi với người có chuyên môn, không phải đơn dùng chung cho mọi người.
Tài liệu ghi 8–10g lá hoặc 4–12g rễ/ngày, sắc uống.[8] Hai lựa chọn bộ phận không có nghĩa dùng đồng thời cả hai ở mức cao nhất.
Với người sau sinh, cần đánh giá riêng tình trạng sức khỏe và việc cho con bú. Người chán ăn kéo dài nên tìm nguyên nhân trước khi dùng.
Tài liệu phổ biến ghi 8–16g lá/ngày, sắc uống.[9] Đây là kinh nghiệm lưu truyền; không xác lập hiệu quả tăng sữa hoặc an toàn cho trẻ bú mẹ.
Không tự dùng kéo dài khi mẹ đau vú, sốt hoặc trẻ bú kém, tăng cân kém. Những biểu hiện này cần được hỗ trợ chuyên môn sớm.
Thân, rễ hoặc vỏ thân được tài liệu ghi ở mức 4–12g/ngày, dạng sắc, tùy nguồn và đúng bộ phận.[1,9]
Không tự áp dụng khi có khả năng mang thai hoặc đang chảy máu bất thường. Thời gian dùng phải do người kê đơn lựa chọn theo trường hợp.
Thành phần được ghi nhận: Rễ ba chạc, dây đau xương, câu đằng, tang ký sinh, mỗi vị 20–30g, sắc uống.[9]
Đây là phương có mức lượng khá cao và cần đúng nguyên liệu. Không dùng ba chạc thân lá thay cho rễ theo cùng khối lượng. Không tự phối khi chưa được đánh giá thể trạng và các thuốc đang dùng.
Thành phần: Lá ba chạc 15g, rau má 30g, đơn buốt 15g, cúc chỉ thiên 15g; tài liệu ghi sắc uống.[3]
Nguồn từng trình bày công thức trong mục phòng cúm và bệnh truyền nhiễm. Trong bài sản phẩm, công thức được giữ như ghi nhận lưu truyền, không khẳng định khả năng phòng cúm hoặc viêm não. Người sốt cao, khó thở hoặc rối loạn ý thức cần được khám ngay.
Tài liệu Vinmec ghi 50–100g lá tươi, nấu với 4–5 lít nước, sau đó để nguội phù hợp để tắm rửa.[13]
Đây là lượng lá tươi, không phải hướng dẫn dùng 50–100g lá khô. Khi chỉ có hàng khô, cần hướng dẫn riêng thay vì tự quy đổi. Thao tác dùng ngoài phải nhẹ, không chà bã vào da.
Tài liệu ghi lá ba chạc tươi phối hợp lá tầm gửi dạng đắp, nhưng lượng thường mô tả bằng “nắm”, thiếu chuẩn khối lượng.[13] Vì vậy, không biến thành công thức định lượng cho cây khô.
Cách dùng này cần nguyên liệu đúng loại và da lành. Không tự đắp khi có vết thương, sưng nóng đỏ không rõ nguyên nhân hoặc nghi chấn thương nặng.
Phần lớn công dụng quen thuộc của ba chạc xuất phát từ tài liệu sử dụng truyền thống và nghiên cứu tiền lâm sàng. Nghiên cứu kháng viêm năm 2025 dùng cao chiết thân trên chuột; nghiên cứu chống virus và tế bào sử dụng các điều kiện thử riêng.
Hệ thống đăng ký nghiên cứu y học Malaysia có nghiên cứu ECZEFOLIA-AD, thiết kế ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược ở người trưởng thành viêm da cơ địa. Chế phẩm dùng là Eczefolia, cao chiết được xử lý riêng; đối tượng tiếp tục điều trị da tiêu chuẩn.[14]
Bản thảo kết quả trên SSRN mô tả liều 200mg chế phẩm/ngày, ghi nhận cải thiện một số chỉ số mức độ bệnh so với giả dược ở tuần thứ sáu.[15] Đây là dữ liệu ban đầu từ bản thảo, chưa nên trình bày như kết luận lâm sàng đã được xác nhận rộng rãi.
Kết quả này thuộc chế phẩm nghiên cứu, không dùng để xác lập liều hoặc hiệu quả của cây ba chạc khô tại Búpxanh. Không thay 200mg cao bằng 200mg dược liệu hay tự tính số gam cây cần sắc.
| Mức bằng chứng | Ví dụ | Ý nghĩa khi sử dụng |
|---|---|---|
| Truyền thống | Nấu lá dùng ngoài, bổ đắng, điều kinh, phong thấp | Tham khảo theo bộ phận và thể trạng |
| Động vật | Cao thân giảm phù chân chuột | Căn cứ phát triển nghiên cứu kháng viêm |
| Tế bào và hợp chất | Hoạt tính chống virus, viêm, tăng sinh tế bào | Chưa thành chỉ định cho sản phẩm khô |
| Nghiên cứu trên người bước đầu | Eczefolia trong viêm da cơ địa | Chỉ gắn với chế phẩm và thiết kế nghiên cứu đó |
Chưa có dữ liệu đủ để tự xác lập liều cây khô cho thai phụ hoặc trẻ nhỏ. Người cho con bú cần được tư vấn dù tài liệu dân gian có mục lợi sữa.
Không dùng những ghi nhận cổ về co giật hoặc sốt cao ở trẻ thành hướng dẫn tự điều trị. Không cho trẻ dùng liều chia theo tỷ lệ của người lớn.
Dữ liệu tương tác cụ thể trên người còn hạn chế. Cung cấp cho người điều trị danh sách thuốc và dược liệu đang dùng trước khi thêm ba chạc, đặc biệt khi có suy gan, suy thận hoặc dùng nhiều thuốc.
Không mặc định có tác dụng bảo vệ gan chỉ vì tài liệu truyền thống đề cập viêm gan. Cũng không coi mức độc tính cấp thấp trên chuột là bảo đảm dùng dài ngày ở người.
Không dùng nước quá nóng, không chà mạnh, không dùng chung dụng cụ bẩn cho vùng da tổn thương. Ngừng sử dụng nếu đỏ da, ngứa hoặc kích ứng tăng.
Nước sắc không phải chế phẩm vô khuẩn; tránh dùng cho mắt, vết thương sâu, vết bỏng rộng hoặc áp xe. Nếu có sưng nóng đỏ lan, đau tăng hoặc sốt, cần được thăm khám.
Bảo quản trong bao hoặc hộp kín, nơi khô thoáng, tránh nắng trực tiếp và nguồn ẩm. Dùng dụng cụ khô để lấy hàng, đóng kín ngay sau mỗi lần mở.
Nếu mua lượng lớn, có thể chia thành các phần nhỏ để hạn chế mở toàn bộ bao nhiều lần. Giữ nhãn và thông tin đơn hàng để theo dõi sản phẩm.
Hạn dùng theo nhãn thực tế. Không sử dụng khi có mốc, mùi chua, mùi lạ, côn trùng hoặc ẩm hỏng; không cố giữ dược liệu đã mốc bằng cách rang, rửa hoặc sắc lại.
Mua sản phẩm tại Búpxanh, bạn đặt niềm tin đúng chỗ. Búpxanh cung cấp cây ba chạc dạng khô, có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm về nguồn dược liệu, xuất xứ; hóa đơn đầu vào và đầu ra hợp pháp.
Khách hàng liên hệ để nhận báo giá, lựa chọn khối lượng và đặt mua theo nhu cầu. Khi dùng theo đơn, ghi rõ bộ phận dược liệu cần mua để lựa chọn đúng sản phẩm.
Có thể xem cách đặt hàng tại Trung tâm Dược liệu hoặc thông tin về Búpxanh. Phí giao, thời gian nhận và điều kiện đổi trả được xác nhận theo đơn hàng.
Nếu sử dụng cho một vấn đề sức khỏe cụ thể, nên tham vấn người có chuyên môn (bác sĩ YHCT/đông y).
Liên hệ Búpxanh để nhận báo giá theo khối lượng và dạng sản phẩm cần mua.
Nhu cầu truyền thống thường gặp là dùng lá ngoài da, phong thấp đau nhức và bổ đắng hỗ trợ ăn uống, tiêu hóa. Công dụng và cách dùng phụ thuộc bộ phận.
Không có một liều chung cho mọi dạng cây khô. Tài liệu Đỗ Tất Lợi ghi 4–12g/ngày cho thân và rễ trong một số mục đích; lá và các phương phối hợp có mức khác.
Không tự thay ngang khối lượng. Khi phương ghi rễ, cần đúng rễ hoặc quyết định thay thế của người kê đơn.
Có kinh nghiệm dùng lá khô nấu nước ngoài da, nhưng lượng lá tươi không quy đổi cố định sang khô. Cần đúng dạng nguyên liệu và dùng ngoài nhẹ nhàng.
Có ghi nhận sử dụng truyền thống. Chưa đủ căn cứ để khẳng định cây khô an toàn và hiệu quả cho mọi người cho con bú; nên được tư vấn trước.
Có nghiên cứu bước đầu với chế phẩm Eczefolia trong viêm da cơ địa. Chế phẩm đó khác cây khô và không cung cấp liều dùng cho sản phẩm này.
Tài liệu truyền thống đề cập viêm gan vàng da, nhưng chưa xác lập hiệu quả kiểm soát virus viêm gan B của sản phẩm cây khô. Người bệnh cần được tư vấn theo tình trạng gan và thuốc đang dùng.
Không tự dùng thay nước lọc. Lượng và thời gian sử dụng cần gắn với mục đích và thể trạng.
ĐC: E67 Đường Phú Thuân , Phường Phú Thuận, Quận 7, Hồ Chí Minh
GPKD: 41G8026476 ngày 30/07/2015 - MST: 037085015723
Email:duoclieubupxanh@gmail.com
Website: https://trungtamduoclieu.vn